
Tại sao Vương quốc Anh lại thay đổi thủ tướng cứ vài năm một lần?
Why is the UK now changing prime minister every few years?
The UK system used to be held up as a model of stable government.
Hệ thống của Vương quốc Anh trước đây từng được coi là một mô hình chính phủ ổn định.
This is not the UK’s first leadership transition in government, and it is unlikely to be the last. These events have, however, been rare until recently. In the 80 years since the end of the second world war, there have only been 18 prime ministers. The nineteenth, likely to be Andy Burnham, will become the seventh premier since 2010. So that makes 12 prime ministers over 65 years – and then seven in the last 16 years.
Đây không phải là lần chuyển giao quyền lãnh đạo đầu tiên của Vương quốc Anh trong chính phủ, và cũng khó có thể là lần cuối cùng. Tuy nhiên, những sự kiện này đã hiếm khi xảy ra cho đến gần đây. Trong 80 năm kể từ khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, chỉ có 18 vị thủ tướng. Vị thứ mười chín, có lẽ sẽ là Andy Burnham, sẽ trở thành vị thủ tướng thứ bảy kể từ năm 2010. Điều đó có nghĩa là cứ sau 65 năm lại có 12 vị thủ tướng – và rồi bảy người trong vòng 16 năm qua.
This is a problem, one that is compounded by the reasons for the departure. Six of the 12 PMs until 2010 simply lost an election – Attlee, Home, Heath, Callaghan, Major and Brown. A further three resigned through ill health – Churchill, Macmillan and Wilson. And two resigned because of scandals – Suez and “partygate”.
Đây là một vấn đề, được làm trầm trọng hơn bởi những lý do dẫn đến việc họ rời nhiệm sở. Sáu trong số 12 Thủ tướng cho đến năm 2010 đơn giản là đã thua cuộc bầu cử – Attlee, Home, Heath, Callaghan, Major và Brown. Thêm ba người nữa từ chức vì vấn đề sức khỏe – Churchill, Macmillan và Wilson. Và hai người từ chức vì các vụ bê bối – Suez và “partygate”.
As such, of the 12 prime ministers from 1945 until 2010, only Margaret Thatcher was dismissed by her party for overtly political reasons. Her backbenchers and her cabinet no longer believed she was an election winner, and she was unceremoniously dumped in 1990. She described it as “treachery with a smile on its face”.
Do đó, trong số 12 vị thủ tướng từ năm 1945 đến năm 2010, chỉ có Margaret Thatcher bị đảng của mình cách chức vì những lý do chính trị quá rõ ràng. Các thành viên ghế dự bị và nội các của bà không còn tin rằng bà là người chiến thắng cuộc bầu cử, và bà đã bị loại bỏ một cách đột ngột vào năm 1990. Bà mô tả đó là “sự phản bội với nụ cười trên môi”.
The period since 2010 has been very different. The UK system that was famed for having the stability of government at its core suddenly started shedding prime ministers like winter coats in the height of summer. Only one – David Cameron – left voluntarily after defeat in the Brexit referendum. Sunak lost an election, while the rest were dispatched either because of scandal (Johnson and “partygate”) or party politics (May, Truss and now Starmer) .
Giai đoạn kể từ năm 2010 rất khác biệt. Hệ thống Vương quốc Anh vốn nổi tiếng với sự ổn định của chính phủ bỗng nhiên bắt đầu loại bỏ các thủ tướng như áo khoác mùa đông vào giữa mùa hè. Chỉ có một người – David Cameron – tự nguyện rời đi sau thất bại trong cuộc trưng cầu dân ý Brexit. Sunak thua bầu cử, trong khi những người còn lại bị điều chuyển do bê bối (Johnson và “partygate”) hoặc chính trị đảng phái (May, Truss và giờ là Starmer) .
Starmer is the first Labour prime minister to be cut down midstream – not even halfway through the parliamentary term. Watching events unfold in Westminster, the overwhelming emotion for someone not schooled in the machinations of the UK government would be bewilderment. Starmer was elected less than two years ago with a historic majority and is well regarded on the international stage. He is not departing on the back of a scandal, rather his power has simply evaporated.
Starmer là thủ tướng Đảng Lao động đầu tiên bị loại bỏ giữa chừng – thậm chí chưa đến nửa nhiệm kỳ nghị viện. Quan sát các sự kiện diễn ra tại Westminster, cảm xúc áp đảo đối với một người không được đào tạo về những mánh khóe của chính phủ Vương quốc Anh sẽ là sự bối rối. Starmer được bầu cách đây chưa đầy hai năm với đa số lịch sử và được đánh giá cao trên trường quốc tế. Ông không rời nhiệm sở vì bê bối, mà quyền lực của ông đơn giản là đã tan biến.
Starmer’s defenestration is probably closest to those of Margaret Thatcher or Tony Blair – with one crucial difference. The revolt against Thatcher seemed to be generated from below. Tories were increasingly worried about their own survival and the government’s policy direction – particularly on the much-hated poll tax.
Việc bị loại bỏ của Starmer có lẽ gần nhất với những vụ việc của Margaret Thatcher hay Tony Blair – nhưng có một khác biệt quan trọng. Cuộc nổi dậy chống lại Thatcher dường như được tạo ra từ bên dưới. Đảng Bảo thủ ngày càng lo lắng về sự tồn vong của chính họ và định hướng chính sách của chính phủ – đặc biệt là về loại thuế poll tax bị ghét cay ghét đắng.
Blair’s dénouement was different in the sense that it came from the top and was the culmination of Gordon Brown’s decade-long campaign to secure the premiership. Blair announced the date of his departure following an orchestrated “curry house plot”, when some in Labour’s junior ranks reportedly planned a coup in a Wolverhampton restaurant, which was obviously inspired from above.
Kết cục của Blair khác ở chỗ nó đến từ cấp cao nhất và là đỉnh điểm của chiến dịch kéo dài hàng thập kỷ của Gordon Brown nhằm đảm bảo vị trí thủ tướng. Blair đã công bố ngày rời nhiệm sở sau một “âm mưu nhà cà ri” được dàn dựng, khi một số người trong hàng ngũ trẻ của Đảng Lao động được cho là đã lên kế hoạch đảo chính tại một nhà hàng ở Wolverhampton, điều này rõ ràng là có sự chỉ đạo từ cấp trên.
When the Burnham threat became real
Khi mối đe dọa từ Burnham trở thành hiện thực
The defenestration of Starmer seems to sit between those of Thatcher and Blair. It was complicated by the fact that its main protagonist, Andy Burnham, was a significant Labour figure – the mayor of Greater Manchester – but not an MP or from the party elite.
Sự sụp đổ chính trị của Starmer dường như nằm giữa những sự kiện tương tự của Thatcher và Blair. Điều này trở nên phức tạp bởi sự thật rằng nhân vật chính của nó, Andy Burnham, là một nhân vật quan trọng của Đảng Lao động – thị trưởng khu vực Greater Manchester – nhưng không phải là nghị viên hay thuộc giới tinh hoa đảng phái.
Until Burnham became the MP for Makerfield, he was only a limited threat. But he managed to tap into some of the key concerns of the parliamentary Labour party (PLP) before he even got to parliament. These broad concerns were dressed up in a range of ways but essentially boiled down to the same fears that the Tory MPs had in 1990. Fear of failure – that is, a failure to get re-elected. There was also a loss of both trust and competence.
Cho đến khi Burnham trở thành Nghị sĩ khu vực Makerfield, anh ta chỉ là một mối đe dọa hạn chế. Nhưng anh ta đã xoay sở để khai thác được một số mối quan tâm chính của Đảng Lao động Nghị viện (PLP) thậm chí trước khi vào nghị viện. Những mối lo ngại rộng lớn này được thể hiện bằng nhiều cách khác nhau nhưng về cơ bản quy về những nỗi sợ hãi tương tự mà các Nghị sĩ Đảng Bảo thủ có vào năm 1990. Đó là nỗi sợ thất bại – tức là việc không tái đắc cử. Ngoài ra còn có sự mất mát cả về lòng tin lẫn năng lực.
The PLP now felt that there had been a string of policy missteps rather than failures, as well as the incompetence and lack of vision that had consolidated the loss of trust and confidence. Crucially, there had also been a run of very poor opinion polls culminating in the disastrous local election results in May. Given all of this – and the enormous success of Makerfield – Starmer’s time was up and Burnham’s time had come.
Đảng PLP giờ đây nhận thấy rằng họ đã mắc một loạt sai lầm về chính sách hơn là thất bại, cùng với sự kém năng lực và thiếu tầm nhìn đã làm suy giảm niềm tin và lòng tin. Quan trọng hơn, còn có cả một chuỗi các cuộc thăm dò ý kiến rất tệ, đỉnh điểm là kết quả bầu cử địa phương thảm hại vào tháng Năm. Với tất cả những điều này – và thành công to lớn của Makerfield – thời của Starmer đã hết và thời của Burnham đã đến.
It remains to be seen whether the change of leader will mark a shift in policy direction or whether it will be more about tone than substance. Policy on its own might not change much, but the language accompanying it may well do. It may be that Burnham is able to connect with the hearts of his backbenchers, and so win their backing for the unpopular choices that are inevitably coming, in a way that Starmer frequently has not.
Vẫn còn phải xem liệu việc thay đổi lãnh đạo có đánh dấu một sự chuyển hướng về chính sách hay chỉ đơn thuần là vấn đề về giọng điệu chứ không phải nội dung. Bản thân chính sách có thể không thay đổi nhiều, nhưng ngôn từ đi kèm với nó thì khả năng cao là sẽ khác. Có lẽ Burnham sẽ có khả năng kết nối được với trái tim của các nghị viên khu vực, và nhờ đó giành được sự ủng hộ của họ cho những lựa chọn khó khăn sắp tới một cách tất yếu, theo cách mà Starmer thường không làm được.
Burnham will need to decide quickly how to deal with a PLP that will initially be enthusiastic about the leadership transition because they think it spells hope, success and longevity for them as well as for the country. The same PLP might be less united about the hard decisions. He faces a PLP that has already tasted victory by enforcing U-turns on policies such as the winter fuel allowance and a reversal on benefit cuts. As a former whip I know that backbenchers who have tasted blood against their own government are difficult to control.
Burnham sẽ cần nhanh chóng quyết định cách xử lý một nhóm nghị sĩ đảng Lao động (PLP) ban đầu sẽ rất nhiệt tình với sự chuyển giao quyền lãnh đạo vì họ tin rằng điều này mang lại hy vọng, thành công và sự bền vững cho cả họ lẫn đất nước. Tuy nhiên, cùng nhóm nghị sĩ đó có thể lại kém đoàn kết hơn khi đối mặt với những quyết định khó khăn. Ông phải đối phó với một PLP đã nếm trải chiến thắng bằng cách buộc thực hiện các cuộc “quay đầu” chính sách đối với các khoản trợ cấp nhiên liệu mùa đông và việc đảo ngược cắt giảm phúc lợi. Với tư cách là một cựu người giám sát kỷ luật đảng, tôi biết rằng những nghị sĩ không giữ vị trí lãnh đạo (backbenchers) đã nếm mùi chiến thắng chống lại chính phủ của mình thì rất khó kiểm soát.
The patience of today’s backbenchers is thin and limited. Crucially, the one virtue in really short supply on the backbenches is gratitude – especially to the leader. Former Conservative minister Chris Patten’s passing comment on Thatcher’s demise could apply equally to Starmer’s. Patten said: “I think we all know that quite a lot of crocodiles keep a handkerchief handy.” Maybe the crocodiles are the ones cheering Burnham today while getting ready for tomorrow. Perhaps it was ever thus.
Sự kiên nhẫn của các nghị sĩ phe đối lập ngày nay rất mỏng manh và có giới hạn. Điều quan trọng là đức tính đang thiếu hụt trầm trọng ở khu vực ghế đối lập chính là lòng biết ơn – đặc biệt là với người lãnh đạo. Bình luận đầy châm biếm của cựu Bộ trưởng Bảo thủ Chris Patten về sự sụp đổ của Thatcher cũng có thể áp dụng tương tự cho Starmer. Patten từng nói: “Tôi nghĩ tất cả chúng ta đều biết rằng khá nhiều cá sấu luôn giữ sẵn một chiếc khăn tay.” Có lẽ những con cá sấu đó là những người đang cổ vũ Burnham hôm nay trong khi chuẩn bị cho ngày mai. Hoặc có lẽ, mọi chuyện chưa bao giờ như vậy.
Tony McNulty is a membert of the Labour Party
Tony McNulty là thành viên của Đảng Lao động.
Read more
-

Bingles, knuckleballs và ‘Beer Barrel Polka’ – hàng trăm tác phẩm bị lãng quên giới thiệu thế giới học thuật đa dạng về bóng chày
Bingles, knuckleballs and ‘Beer Barrel Polka’ – hundreds of forgotten works showcase the eclectic world of baseball scholarship
-

Giới tinh hoa chính trị Lebanon đang lợi dụng tình trạng di dời và khủng hoảng nhân đạo để trì hoãn bầu cử một lần nữa
Lebanon’s political elites are using displacement and humanitarian crisis to delay elections again