
Tại sao Mỹ lại ám ảnh kiểm soát Cuba đến vậy?
Why is the US so obsessed with controlling Cuba?
Nothing angers Cubans more than being told by Americans how to run their country.
Không có gì khiến người Cuba tức giận hơn là bị người Mỹ bảo cách điều hành đất nước của họ.
For months, US President Donald Trump has been fixated on Cuba. He’s issued threats and imposed additional sanctions on the island. The US military has conducted dozens of intelligence-gathering flights off the coast in recent weeks, suggesting a prelude to an invasion.
Trong nhiều tháng, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã bị ám ảnh bởi Cuba. Ông đã đưa ra các lời đe dọa và áp đặt thêm các lệnh trừng phạt lên hòn đảo. Quân đội Mỹ đã thực hiện hàng chục chuyến bay thu thập tình báo ngoài khơi trong những tuần gần đây, gợi ý về một cuộc xâm lược sắp xảy ra.
The Cuban government has indicated a readiness to negotiate with the Trump administration on some issues, such as migration, drug trafficking and investment openings for Cuban-Americans. But Cuba’s sovereignty is not negotiable.
Chính phủ Cuba đã bày tỏ sự sẵn lòng đàm phán với chính quyền Trump về một số vấn đề, chẳng hạn như di cư, buôn bán ma túy và cơ hội đầu tư cho người Mỹ gốc Cuba. Nhưng chủ quyền của Cuba là không thể thương lượng.
After interviewing Cuban President Miguel Díaz-Canel last month, US journalist Kristen Welker seemed to catch on:
Sau khi phỏng vấn Tổng thống Cuba Miguel Díaz-Canel vào tháng trước, nhà báo Mỹ Kristen Welker dường như đã hiểu ra:
Nothing gets under [Cubans’] skin more than the notion that the United States can tell the Cuban government who should lead it or what it should be doing, how it should be governing, because that challenges the very idea of the sovereignty of the country.
Không gì khiến người dân [Cuba] khó chịu hơn ý tưởng rằng Hoa Kỳ có thể bảo chính phủ Cuba nên lãnh đạo như thế nào hoặc nên làm gì, cách họ nên cai trị, bởi vì điều đó thách thức chính ý tưởng về chủ quyền của đất nước.
This US obsession with controlling, influencing and coercing Cuba long predates Trump and even the Cold War. This is how President Theodore Roosevelt described the island in 1906:
Sự ám ảnh của Mỹ trong việc kiểm soát, gây ảnh hưởng và cưỡng ép Cuba đã có từ rất lâu trước Trump và cả Chiến tranh Lạnh. Đây là cách Tổng thống Theodore Roosevelt mô tả hòn đảo vào năm 1906:
I am so angry with that infernal little Cuban republic that I would like to wipe its people off the face of the earth. All we have wanted from them was that they would behave themselves and be prosperous and happy so that we would not have to interfere. And now, lo and behold, they have started an utterly unjustifiable and pointless revolution.
Tôi rất tức giận với nước cộng hòa nhỏ bé đáng khinh đó ở Cuba đến nỗi tôi muốn xóa sổ nhân dân của nó khỏi mặt đất. Tất cả những gì chúng tôi mong muốn từ họ là họ nên cư xử đúng mực và thịnh vượng, hạnh phúc để chúng tôi không cần phải can thiệp. Và bây giờ, quả là thế, họ đã bắt đầu một cuộc cách mạng hoàn toàn vô lý và vô nghĩa.
Understanding the current impasse between the two adversarial neighbours requires looking at this full arc of history. While the 1823 Monroe Doctrine sought to establish US predominance in the entire American continent, Cuba has always been a particular focus of Washington’s attention.
Để hiểu được tình thế bế tắc hiện tại giữa hai nước láng giềng đối địch này, cần phải nhìn vào toàn bộ dòng lịch sử này. Trong khi Học thuyết Monroe năm 1823 tìm cách thiết lập sự thống trị của Mỹ trên toàn lục địa châu Mỹ, Cuba luôn là một trọng tâm chú ý của Washington.
‘Americanisation’ of the island
‘Việc Mỹ hóa’ hòn đảo
From the moment the 13 American colonies declared independence from Britain, Americans assumed Cuba would become part of the union. Successive US administrations sought to purchase, annex or otherwise control Cuba, claiming this was inevitable by virtue of the laws of gravity and geography. It was also seen as part of a self-proclaimed “civilising mission”.
Kể từ thời điểm 13 thuộc địa Mỹ tuyên bố độc lập khỏi Anh, người Mỹ cho rằng Cuba sẽ trở thành một phần của liên minh. Các chính quyền Mỹ kế tiếp tìm cách mua lại, sáp nhập hoặc kiểm soát Cuba bằng mọi cách, cho rằng điều này là tất yếu theo quy luật hấp dẫn và địa lý. Nó cũng được coi là một phần của một “nhiệm vụ khai hóa” tự tuyên bố.
When the Cubans eventually defeated their Spanish colonial masters in 1898, the United States stepped in and occupied the island to thwart its independence.
Khi người Cuba cuối cùng đánh bại các chủ thực dân Tây Ban Nha vào năm 1898, Hoa Kỳ đã can thiệp và chiếm đóng hòn đảo để ngăn chặn nền độc lập của nó.
At the time, at least one third of Cubans were former slaves or of mixed race. The US governor of Cuba, Leonard Wood, argued they were not ready for self-government.
Vào thời điểm đó, ít nhất một phần ba người Cuba là nô lệ cũ hoặc người da trộn lẫn. Thống đốc Cuba của Mỹ, Leonard Wood, lập luận rằng họ chưa sẵn sàng cho việc tự quản lý.
Certainly, the US – especially the Southern former slave holders – didn’t want another Haiti in its neighbourhood. Haitian slaves had seized control of their island nation from the French in a violent rebellion in 1804, echoing the cries of the French revolution for liberty, fraternity and equality.
Chắc chắn, Mỹ – đặc biệt là những người nắm giữ chế độ nô lệ ở miền Nam – không muốn có thêm một Haiti trong khu vực lân cận. Nô lệ Haiti đã giành quyền kiểm soát quốc đảo của họ từ người Pháp trong một cuộc nổi dậy bạo lực vào năm 1804, vang vọng tiếng kêu của cuộc cách mạng Pháp đòi tự do, tình huynh đệ và bình đẳng.
The US military occupation of Cuba ended in 1902 and Cuba formally declared independence – albeit with provisions. These allowed for future US intervention whenever Washington thought the Cuban people needed a guiding hand (which turned out to be fairly often) .
Sự chiếm đóng quân sự của Mỹ đối với Cuba kết thúc vào năm 1902 và Cuba chính thức tuyên bố độc lập – mặc dù có các điều khoản. Những điều khoản này cho phép sự can thiệp của Mỹ trong tương lai bất cứ khi nào Washington nghĩ rằng người dân Cuba cần một bàn tay dẫn dắt (điều mà hóa ra khá thường xuyên xảy ra) .
In the decades that followed, US business interests deeply penetrated every sector of Cuba’s economy and had complete sway over Cuban governments.
Trong những thập kỷ tiếp theo, lợi ích kinh doanh của Mỹ đã thâm nhập sâu vào mọi lĩnh vực của nền kinh tế Cuba và có quyền kiểm soát hoàn toàn đối với các chính phủ Cuba.
On a cultural level, Cuba rapidly became “Americanised” through a new US-style education system. Travel to the island picked up, too. The popular Terry’s Guide to Cuba reassured US visitors in the 1920s they would feel right at home because “thousands [of Cubans] act, think, talk and look like Americans”.
Về mặt văn hóa, Cuba nhanh chóng trở nên “Mỹ hóa” thông qua một hệ thống giáo dục kiểu Mỹ mới. Du lịch đến hòn đảo cũng tăng lên. Sách hướng dẫn nổi tiếng Terry về Cuba đã trấn an du khách Mỹ vào những năm 1920 rằng họ sẽ cảm thấy như ở nhà vì “hàng ngàn [người Cuba] hành động, suy nghĩ, nói và trông giống người Mỹ”.
Castro’s mission
Nhiệm vụ của Castro
All of this changed with the rise of Fidel Castro.
Tất cả đã thay đổi với sự trỗi dậy của Fidel Castro.
During the Cuban Revolution, Castro announced in April 1959 that the revolutionary government would be “Cubanising Cuba”. This might seem “paradoxical”, he explained, but Cubans “undervalued” everything Cuban. They had become “imbued with a type of complex of self-doubt” in the face of the overwhelming US influence on the island’s culture, politics and economy.
Trong cuộc Cách mạng Cuba, Castro tuyên bố vào tháng 4 năm 1959 rằng chính phủ cách mạng sẽ “Cuba hóa Cuba”. Ông giải thích rằng điều này có vẻ “nghịch lý”, nhưng người Cuba “đánh giá thấp” mọi thứ thuộc về Cuba. Họ đã trở nên “tràn ngập một kiểu phức cảm tự nghi ngờ” trước ảnh hưởng áp đảo của Mỹ đối với văn hóa, chính trị và kinh tế của hòn đảo.
US journalist Elizabeth Sutherland similarly observed at the time that Cubans suffered from a “cultural inferiority complex typical of colonised peoples”.
Nhà báo Mỹ Elizabeth Sutherland cũng nhận xét vào thời điểm đó rằng người Cuba phải chịu đựng một “phức cảm tự ti văn hóa điển hình của các dân tộc bị thuộc địa hóa”.
For North Americans, however, Castro’s blunt statement seemed at best to reflect ingratitude, and at worst, an insult. As the US broadcaster Walter Cronkite recalled:
Tuy nhiên, đối với người Bắc Mỹ, tuyên bố thẳng thừng của Castro dường như phản ánh sự bội bạc, và tệ hơn là một sự xúc phạm. Như phát thanh viên Mỹ Walter Cronkite đã nhớ lại:
The rise of Fidel Castro in Cuba was a terrible shock to the American people. This brought communism practically to our shores. Cuba was a resort land for Americans […] we considered it part of the United States.
Sự trỗi dậy của Fidel Castro ở Cuba là một cú sốc khủng khiếp đối với người dân Mỹ. Điều này đã đưa chủ nghĩa cộng sản gần đến bờ biển của chúng ta. Cuba là một vùng nghỉ mát cho người Mỹ […] chúng ta coi đó là một phần của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.
At the heart of Cuba’s revolutionary project has been an assertion of Cuba’s sovereignty, independence and national identity. The drive has been to create a new, united and socially just Cuban nation, as envisioned by its great national hero and poet, José Martí.
Trọng tâm của dự án cách mạng Cuba là sự khẳng định chủ quyền, độc lập và bản sắc dân tộc của Cuba. Động lực là tạo ra một quốc gia Cuba mới, thống nhất và công bằng về mặt xã hội, như được hình dung bởi người anh hùng dân tộc và nhà thơ vĩ đại của ông, José Martí.
So, for Cubans it’s a matter of history. For North Americans, it’s a matter of self-image. They had “convinced themselves,” writes historian Louis A. Pérez, of the “beneficent purpose […] from which [the US] derived the moral authority to presume power over Cuba”.
Vì vậy, đối với người Cuba, đó là một vấn đề lịch sử. Đối với người Bắc Mỹ, đó là vấn đề về hình ảnh bản thân. Nhà sử học Louis A. Pérez viết rằng họ đã “tự thuyết phục bản thân” về “mục đích nhân từ […] từ đó [Mỹ] có được thẩm quyền đạo đức để áp đặt quyền lực lên Cuba”.
When the Obama administration finally resumed relations with Cuba in 2014, it felt like a historic shift was taking place. The US might finally respect Cuban sovereignty and engage with Cuba on equal terms.
Khi chính quyền Obama cuối cùng khôi phục quan hệ với Cuba vào năm 2014, cảm giác như một sự thay đổi lịch sử đang diễn ra. Mỹ cuối cùng có thể tôn trọng chủ quyền của Cuba và tham gia với Cuba trên cơ sở bình đẳng.
As President Barack Obama said at the time:
Như Tổng thống Barack Obama đã nói vào thời điểm đó:
It does not serve America’s interests, or the Cuban people, to try to push Cuba toward collapse. […] We can never erase the history between us, but we believe that you should be empowered to live with dignity and self-determination.
Không phục vụ lợi ích của nước Mỹ, hay nhân dân Cuba, khi cố gắng đẩy Cuba đến bờ vực sụp đổ. […] Chúng ta không bao giờ có thể xóa bỏ lịch sử giữa chúng ta, nhưng chúng tôi tin rằng các bạn nên được trao quyền để sống với phẩm giá và quyền tự quyết.
Trump has now reverted to Washington’s traditional neo-colonialist view of Cuba, proclaiming he can do what he likes with the island. Perhaps it is time to try a new approach. As the spectacular debacle of the US-backed Bay of Pigs invasion showed 65 years ago, Cubans remain ready to defend their independence and their right to determine their own future.
Trump hiện đã quay trở lại quan điểm tân thực dân truyền thống của Washington về Cuba, tuyên bố rằng ông có thể làm bất cứ điều gì mình muốn với hòn đảo. Có lẽ đã đến lúc thử một cách tiếp cận mới. Như thất bại ngoạn mục của cuộc xâm lược Vịnh Pigs được Mỹ hậu thuẫn đã cho thấy 65 năm trước, người Cuba vẫn sẵn sàng bảo vệ nền độc lập và quyền quyết định tương lai của họ.
Deborah Shnookal does not work for, consult, own shares in or receive funding from any company or organisation that would benefit from this article, and has disclosed no relevant affiliations beyond their academic appointment.
Deborah Shnookal không làm việc cho, tư vấn, sở hữu cổ phần trong hoặc nhận tài trợ từ bất kỳ công ty hay tổ chức nào được hưởng lợi từ bài báo này, và đã không tiết lộ bất kỳ mối liên hệ liên quan nào ngoài chức vụ học thuật của mình.
Read more
-

Các nhà soạn nhạc và nhà sản xuất nữ da đen của Motown là những kiến trúc sư vô hình đứng sau gã khổng lồ nhạc pop
Motown’s Black women songwriters and producers were the invisible architects behind the pop music juggernaut
-

Khả năng của Trung Quốc để vượt qua cuộc chiến thương mại của Trump là kết quả của hai thập kỷ.
China’s ability to weather Trump’s trade war was two decades in the making