US indictment of Raúl Castro comes amid a long history of American aggression against Cuba

Việc Mỹ truy tố Raúl Castro diễn ra trong bối cảnh lịch sử lâu dài về sự gây hấn của Mỹ đối với Cuba

US indictment of Raúl Castro comes amid a long history of American aggression against Cuba

Kevin A. Young, Associate Professor of History, UMass Amherst

Recent military and economic pressure on Cuba, including Trump’s threats of a ‘friendly takeover’ of the island, follow a long pattern of US hostility toward its southern neighbor.

Những áp lực quân sự và kinh tế gần đây đối với Cuba, bao gồm cả những lời đe dọa của Trump về việc ‘thâu tóm thân thiện’ hòn đảo này, tuân theo một mô hình lâu dài về thái độ thù địch của Mỹ đối với nước láng giềng phía nam.

The Trump administration on May 20, 2026, indicted former Cuban President Raúl Castro for murder, based on the downing of two planes near the Cuban coastline in 1996 that killed four people.

Chính quyền Trump vào ngày 20 tháng 5 năm 2026 đã buộc tội cựu Tổng thống Cuba Raúl Castro về tội giết người, dựa trên vụ việc bắn rơi hai chiếc máy bay gần bờ biển Cuba vào năm 1996 khiến bốn người thiệt mạng.

As a historian of Latin America and U.S. foreign policy, I believe the indictment may be the prelude to direct U.S. military action against Cuba.

Là một nhà sử học về khu vực Mỹ Latinh và chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, tôi tin rằng vụ buộc tội này có thể là tiền đề cho hành động quân sự trực tiếp của Mỹ nhằm vào Cuba.

Before Castro, the last U.S. indictment of a Latin American leader occurred in January 2026, when a U.S. attorney appointed by President Donald Trump charged Venezuela’s Nicolás Maduro with narco-terrorism. Those charges were promptly followed by U.S. military strikes on Venezuela and the abduction of Maduro.

Trước vụ việc với Castro, lần buộc tội gần nhất của Mỹ đối với một nhà lãnh đạo Mỹ Latinh xảy ra vào tháng 1 năm 2026, khi một công tố viên Hoa Kỳ do Tổng thống Donald Trump bổ nhiệm đã buộc Nicolás Maduro của Venezuela về tội khủng bố ma túy. Những cáo buộc này ngay sau đó được theo bằng các cuộc tấn công quân sự của Mỹ vào Venezuela và việc bắt cóc Maduro.

Since January, the U.S. has ended the flow of Venezuelan oil to Cuba and has used economic and military pressure to prevent other nations from trading with the island. And Trump recently threatened a “friendly takeover” of Cuba.

Kể từ tháng Giêng, Mỹ đã cắt nguồn cung dầu của Venezuela cho Cuba và sử dụng áp lực kinh tế cũng như quân sự để ngăn các quốc gia khác giao thương với hòn đảo này. Và gần đây Trump còn đe dọa một “cuộc tiếp quản thân thiện” đối với Cuba.

I believe that what’s missing from most recent analysis of this situation is the history of U.S. aggression against Cuba. This is essential context for understanding the Trump administration’s recent escalations.

Tôi tin rằng điều còn thiếu trong các phân tích gần đây nhất về tình huống này là lịch sử gây hấn của Mỹ đối với Cuba. Đây là bối cảnh thiết yếu để hiểu được những đợt leo thang gần đây của chính quyền Trump.

‘Striking at Cuba constantly’

‘Liên tục tấn công Cuba’

In 1823, U.S. Secretary of State John Quincy Adams identified Cuba as “an object of transcendent importance to the political and commercial interests of our Union.” The 1959 Cuban Revolution that overthrew U.S.-backed dictator Fulgencio Batista and replaced him with Fidel Castro, brother of Raúl, directly challenged those interests by asserting political autonomy and expropriating private property.

Năm 1823, Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ John Quincy Adams xác định Cuba là “một đối tượng có tầm quan trọng vượt trội đối với lợi ích chính trị và thương mại của Liên bang chúng ta.” Cách mạng Cuba năm 1959 lật đổ nhà độc tài Fulgencio Batista được Mỹ hậu thuẫn và thay thế ông bằng Fidel Castro, anh trai của Raúl, đã trực tiếp thách thức những lợi ích đó bằng cách khẳng định quyền tự chủ chính trị và tịch thu tài sản tư nhân.

State Department officials observed that “the majority of Cubans support Castro” because of the government’s redistributive measures and its “real honesty, courtesy, and idealism.” One official warned “that if the Cuban revolution is successful other countries in Latin America and perhaps elsewhere will use it as a model and we should decide whether or not we wish to have the Cuban revolution succeed.

Các quan chức Bộ Ngoại giao nhận thấy rằng “đa số người Cuba ủng hộ Castro” nhờ các biện pháp phân phối lại của chính phủ và “sự trung thực, lịch thiệp và lý tưởng hóa thực sự.” Một quan chức đã cảnh báo rằng “nếu cuộc cách mạng Cuba thành công, các quốc gia khác ở Mỹ Latinh và có lẽ là nơi khác sẽ sử dụng nó làm mô hình và chúng ta phải quyết định xem liệu chúng ta có muốn cuộc cách mạng Cuba thành công hay không.”

They decided quickly. By December 1959, President Dwight Eisenhower’s CIA director had approved plans to overthrow the Castro government. U.S. policy thereafter included direct sponsorship and safe haven for Cuban paramilitary groups.

Họ đã nhanh chóng đưa ra quyết định. Đến tháng 12 năm 1959, giám đốc CIA của Tổng thống Dwight Eisenhower đã phê duyệt các kế hoạch lật đổ chính phủ Castro. Chính sách của Hoa Kỳ sau đó bao gồm việc tài trợ trực tiếp và cung cấp nơi trú ẩn an toàn cho các nhóm bán quân sự Cuba.

Figure
An American plane is shot down on Playa Girón during the Bay of Pigs invasion in April 1961. Keystone-France/Gamma-Keystone via Getty Images
Một máy bay Mỹ bị bắn rơi tại Playa Girón trong cuộc xâm lược Vịnh Pigs vào tháng 4 năm 1961. Keystone-France/Gamma-Keystone qua Getty Images

The CIA-led Bay of Pigs invasion in April 1961 is only the most famous episode. The U.S. trained 1,400 Cuban exiles to invade Cuba, hoping to ignite a nationwide rebellion. Instead, Cubans rallied behind the government.

Cuộc xâm lược Vịnh Pigs do CIA dẫn đầu vào tháng 4 năm 1961 chỉ là sự kiện nổi tiếng nhất. Hoa Kỳ đã huấn luyện 1.400 người lưu vong Cuba để xâm lược Cuba, với hy vọng châm ngòi một cuộc nổi dậy trên toàn quốc. Thay vào đó, người dân Cuba lại đứng lên ủng hộ chính phủ.

Though U.S. analysts often criticize the invasion because it failed, it was also a major crime under international law. Several hundred Cubans were killed.

Mặc dù các nhà phân tích Mỹ thường chỉ trích cuộc xâm lược này vì nó thất bại, nhưng nó cũng là một tội ác lớn theo luật pháp quốc tế. Hàng trăm người Cuba đã thiệt mạng.

Fear of a repeat invasion also led Soviet premier Nikita Khrushchev to send nuclear missiles to Cuba, precipitating the Cuban missile crisis of October 1962 that nearly led to nuclear war.

Nỗi sợ hãi về một cuộc xâm lược lặp lại cũng khiến Thủ tướng Liên Xô Nikita Khrushchev gửi tên lửa hạt nhân đến Cuba, gây ra cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962, suýt chút nữa dẫn đến chiến tranh hạt nhân.

Longtime CIA official Richard Helms later testified that in the early 1960s, “We had task forces that were striking at Cuba constantly. We were attempting to blow up power plants, we were attempting to ruin sugar mills, we were attempting to do all kinds of things during this period. This was a matter of American Government policy.”

Sau này, quan chức CIA lâu năm Richard Helms đã làm chứng rằng vào đầu những năm 1960, “Chúng tôi có các lực lượng đặc nhiệm liên tục tấn công Cuba. Chúng tôi cố gắng phá hủy các nhà máy điện, chúng tôi cố gắng phá hoại các nhà máy đường, chúng tôi cố gắng thực hiện mọi loại hành động trong giai đoạn này. Đây là vấn đề chính sách của Chính phủ Mỹ.”

In 1976, Luis Posada Carriles and Orlando Bosch, two Cuban exiles, planned the bombing of a Cuban civilian airliner near Barbados that killed all 73 people aboard.

Năm 1976, Luis Posada Carriles và Orlando Bosch, hai người lưu vong Cuba, đã lên kế hoạch đánh bom một chiếc máy bay dân dụng Cuba gần Barbados, khiến tất cả 73 người trên máy bay thiệt mạng.

“The C.I.A. taught us everything,” Posada Carriles said later. “They taught us explosives, how to kill, bomb, trained us in acts of sabotage.”

Posada Carriles sau này nói: “CIA đã dạy chúng tôi mọi thứ. Họ dạy chúng tôi thuốc nổ, cách giết chóc, đánh bom, huấn luyện chúng tôi các hành vi phá hoại.”

Both men were given refuge in the United States for the rest of their lives.

Cả hai người đàn ông đều được cung cấp nơi trú ẩn tại Hoa Kỳ suốt phần đời còn lại của họ.

The Bay of Pigs invasion and the airline bombing violate the core principles of international law, including prohibitions on the unprovoked “threat or use of force” and collective punishment. The U.S. government itself defines “international terrorism” as “violent acts” intended “to influence the policy of a government by intimidation or coercion” or to “intimidate or coerce a civilian population.”

Cuộc xâm lược Vịnh Pigs và vụ đánh bom máy bay đã vi phạm các nguyên tắc cốt lõi của luật pháp quốc tế, bao gồm lệnh cấm “đe dọa hoặc sử dụng vũ lực” vô cớ và trừng phạt tập thể. Bản thân chính phủ Hoa Kỳ định nghĩa “khủng bố quốc tế” là những “hành động bạo lực” nhằm mục đích “ảnh hưởng đến chính sách của một chính phủ bằng sự đe dọa hoặc cưỡng ép” hoặc để “đe dọa hoặc cưỡng bức dân thường.”

By that definition, its Cuba policy qualifies.

Theo định nghĩa đó, chính sách đối với Cuba của Mỹ đã đủ điều kiện.

By ‘every possible means’

Bằng mọi giá

Another U.S. method of striking at Cuba was through economic sanctions, first imposed on the country in 1960. That year, a State Department official wrote that “every possible means should be undertaken promptly to weaken the economic life of Cuba” so as “to bring about hunger, desperation and overthrow of government.” The logic of collective punishment was clear: make Cubans suffer enough that they rebel against Castro.

Một phương pháp khác của Mỹ nhằm gây sức ép lên Cuba là thông qua các lệnh trừng phạt kinh tế, lần đầu tiên được áp dụng vào quốc gia này vào năm 1960. Năm đó, một quan chức Bộ Ngoại giao đã viết rằng “mọi phương tiện có thể phải được thực hiện kịp thời để làm suy yếu đời sống kinh tế của Cuba” nhằm “gây ra nạn đói, sự tuyệt vọng và lật đổ chính phủ.” Logic của việc trừng phạt tập thể là rõ ràng: khiến người Cuba phải đau khổ đến mức họ nổi dậy chống lại Castro.

Figure
Images of Cuban President Miguel Díaz-Canel, Raúl Castro and Fidel Castro adorn the state building in Havana, Cuba, on May 20, 2026. AP Photo/Ramon Espinosa
Hình ảnh của Tổng thống Cuba Miguel Díaz-Canel, Raúl Castro và Fidel Castro trang hoàng tòa nhà chính phủ ở Havana, Cuba, vào ngày 20 tháng 5 năm 2026. AP Photo/Ramon Espinosa

This policy is now more aggressive than ever. The tightening of U.S. sanctions since Trump’s first term has reduced Cuba’s income from tourism, remittances and overseas medical missions. Now, by choking off the supply of fuel, the U.S. has critically weakened the healthcare and sanitation systems that depend on electricity.

Chính sách này hiện nay gay gắt hơn bao giờ hết. Việc siết chặt các lệnh trừng phạt của Mỹ kể từ nhiệm kỳ đầu của ông Trump đã làm giảm thu nhập của Cuba từ du lịch, kiều hối và các sứ mệnh y tế ở nước ngoài. Hiện tại, bằng cách cắt đứt nguồn cung nhiên liệu, Mỹ đã làm suy yếu nghiêm trọng hệ thống chăm sóc sức khỏe và vệ sinh vốn phụ thuộc vào điện.

Medical professionals and United Nations observers have described scenes of ventilators and incubators left without power, pharmacies empty and healthcare workers forced into “horrible decisions” about who lives and dies. A recent medical study reported a 148% increase in infant mortality between 2018 and 2025, meaning that about 1,800 infants died who otherwise would have lived.

Các chuyên gia y tế và các quan sát viên Liên Hợp Quốc đã mô tả những cảnh tượng máy thở và lò ấp bị mất điện, nhà thuốc trống rỗng, cùng với việc nhân viên chăm sóc sức khỏe buộc phải đưa ra những “quyết định khủng khiếp” về việc ai sống và ai chết. Một nghiên cứu y khoa gần đây đã báo cáo sự gia tăng 148% tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh giữa năm 2018 và 2025, nghĩa là khoảng 1.800 trẻ sơ sinh đã qua đời mà lẽ ra có thể sống sót.

‘I was trained as a terrorist by the United States’

“Tôi đã được Hoa Kỳ huấn luyện thành khủng bố.”

The focus of the recent U.S. indictment against Raúl Castro was the incident on Feb. 24, 1996, when the Cuban military, which was headed by Castro, shot down those two planes.

Trọng tâm của cáo buộc gần đây của Mỹ chống lại Raúl Castro là sự cố ngày 24 tháng 2 năm 1996, khi quân đội Cuba do Castro chỉ huy đã bắn hạ hai chiếc máy bay đó.

The planes were operated by Brothers to the Rescue, an anti-Castro group of Cuban exiles who said they were aiding Cuban emigres trying to reach Florida. The group’s head, and one of the surviving pilots that day, was José Basulto, a veteran CIA asset and participant in the Bay of Pigs invasion.

Những chiếc máy bay này do nhóm Brothers to the Rescue điều hành, một nhóm người lưu vong Cuba chống Castro tuyên bố rằng họ đang giúp đỡ những người di cư Cuba cố gắng đến Florida. Người đứng đầu nhóm và cũng là một trong những phi công sống sót ngày hôm đó là José Basulto, một cựu tài sản của CIA kỳ cựu và là người tham gia cuộc xâm lược Vịnh Pigs.

In 1962, Basulto fired a cannon and machine gun “16 times” at a Cuban hotel, he later recounted. “I was trained as a terrorist by the United States,” Basulto once told an interviewer.

Năm 1962, Basulto đã bắn đại bác và súng máy “16 lần” vào một khách sạn Cuba, anh kể lại sau này. “Tôi đã được Hoa Kỳ huấn luyện thành khủng bố,” Basulto từng nói với một nhà báo.

Basulto’s plane had entered Cuban airspace on Feb. 24, as a U.S. customs service specialist later testified. Correspondence from the day shows that Basulto did so knowingly. The previous July, he had told a TV audience, “We want confrontation.”

Máy bay của Basulto đã đi vào không phận Cuba vào ngày 24 tháng 2, theo lời khai sau này của một chuyên viên hải quan Hoa Kỳ. Các thư từ từ ngày hôm đó cho thấy Basulto đã làm điều đó một cách có chủ ý. Vào tháng Bảy năm trước, anh từng nói với khán giả truyền hình: “Chúng tôi muốn đối đầu.”

While the Cuban military could have deescalated the situation more carefully that day, Cuba had been trying for months to stop the violations of its airspace.

Mặc dù quân đội Cuba có thể đã giảm leo thang tình hình cẩn thận hơn vào ngày hôm đó, nhưng Cuba đã cố gắng nhiều tháng để ngăn chặn các hành vi xâm phạm không phận của mình.

I believe indicting Cuban officials over the incident is disingenuous, given the provocations by Brothers to the Rescue and U.S. actions against Cuba, which are in direct violation of international and U.S. laws that prohibit threats, nondefensive violence and collective punishment.

Tôi tin rằng việc buộc tội các quan chức Cuba về sự cố này là không chân thật, xét đến những hành động khiêu khích của Brothers to the Rescue và các hành động của Mỹ chống lại Cuba, vốn vi phạm trực tiếp luật pháp quốc tế và Hoa Kỳ cấm đe dọa, bạo lực phi phòng vệ và trừng phạt tập thể.

Kevin A. Young does not work for, consult, own shares in or receive funding from any company or organization that would benefit from this article, and has disclosed no relevant affiliations beyond their academic appointment.

Kevin A. Young không làm việc cho, tư vấn, sở hữu cổ phần hoặc nhận tài trợ từ bất kỳ công ty hay tổ chức nào được hưởng lợi từ bài viết này, và đã tiết lộ không có mối liên hệ nào liên quan ngoài vị trí học thuật của mình.