Các chuyên gia tâm lý học tích cực không làm theo lời khuyên của chính họ. Những gì họ thực sự làm có thể là chìa khóa dẫn đến hạnh phúc

Positive psychology experts don’t follow their own advice. What they actually do may be the key to wellbeing

Các chuyên gia tâm lý học tích cực không làm theo lời khuyên của chính họ. Những gì họ thực sự làm có thể là chìa khóa dẫn đến hạnh phúc
Jolanta Burke, Associate Professor, Centre for Positive Health Sciences, RCSI University of Medicine and Health Sciences
Show
Hide
EN – VI
VI – EN
3000-5000 ▼
0-3000
3000-5000
5000-7000
7000-10000

Positive psychology forms the backbone of wellbeing programmes around the world. Many people aiming to improve their mental health and live a good life are told to follow a programme of activities that focus on making an intentional effort to improve their wellbeing.

Tâm lý học tích cực tạo thành nền tảng của các chương trình nâng cao đời sống tinh thần trên khắp thế giới. Nhiều người nhằm mục đích cải thiện sức khỏe tinh thần và sống một cuộc đời tốt đẹp được bảo là hãy tuân theo một chương trình các hoạt động tập trung vào việc nỗ lực có chủ ý để cải thiện sự hạnh phúc của họ.

But recent research I conducted with colleagues shows that while wellbeing experts often recommend these activities to others, in real life they rarely practice them themselves. This discrepancy may tell us something important about what truly sustains wellbeing over time.

Nhưng nghiên cứu gần đây do tôi và các đồng nghiệp thực hiện cho thấy rằng mặc dù các chuyên gia về hạnh phúc thường khuyên người khác làm những hoạt động này, nhưng trong đời thực, bản thân họ hiếm khi tự thực hành chúng. Sự khác biệt này có thể cho chúng ta biết một điều quan trọng về những gì thực sự duy trì sự hạnh phúc theo thời gian.

I interviewed 22 experts and practitioners in positive psychology – some with more than a decade of experience. All of them regularly recommended wellbeing activities to clients, friends and family members and told me they would tailor each activity according to an individual’s needs.

Tôi đã phỏng vấn 22 chuyên gia và nhà thực hành trong lĩnh vực tâm lý học tích cực – một số người có kinh nghiệm hơn một thập kỷ. Tất cả bọn họ đều thường xuyên giới thiệu các hoạt động tạo sự hạnh phúc cho khách hàng, bạn bè và các thành viên trong gia đình, đồng thời cho tôi biết họ sẽ điều chỉnh từng hoạt động theo nhu cầu của mỗi cá nhân.

But when I asked them about their own application of positive psychology practices, it became apparent that they didn’t engage in these activities regularly. They only tended to use them during difficult periods, when they felt a need for a wellbeing boost.

Thế nhưng khi tôi hỏi họ về việc bản thân họ áp dụng các phương pháp tâm lý học tích cực như thế nào, thì rõ ràng là họ không tham gia vào những hoạt động này một cách thường xuyên. Họ chỉ có xu hướng sử dụng chúng trong những giai đoạn khó khăn, khi họ cảm thấy cần phải nâng cao tinh thần.

Positive psychology programmes often recommend patients activities like “gratitude journaling” (writing down the things one is grateful for) daily, or undertaking three acts of kindness each week. The key emphasis with these programmes is to make an intentional, concerted effort to be more positive.

Các chương trình tâm lý học tích cực thường khuyên bệnh nhân thực hiện các hoạt động như “viết nhật ký lòng biết ơn” (viết ra những điều bản thân cảm thấy biết ơn) hàng ngày, hoặc thực hiện ba hành động tử tế mỗi tuần. Trọng tâm cốt lõi của những chương trình này là nỗ lực một cách có chủ đích và đồng bộ để trở nên tích cực hơn.

But our study showed that experts don’t use wellbeing the way many positive psychology programmes teach it. Instead of following a schedule of activities, their wellbeing came from having a flexible, wellbeing-oriented mindset, which we termed a “meliotropic wellbeing mindset”.

Nhưng nghiên cứu của chúng tôi cho thấy các chuyên gia không sử dụng các hoạt động tạo hạnh phúc theo cách mà nhiều chương trình tâm lý học tích cực giảng dạy. Thay vì tuân theo một lịch trình các hoạt động, sự hạnh phúc của họ đến từ việc sở hữu một tư duy linh hoạt, hướng về sự hạnh phúc, mà chúng tôi gọi là “tư duy hạnh phúc meliotropic”.

The term is derived from the Latin “melior” (better) and Greek “tropism” (movement towards) . It’s about moving toward what makes life worth living. This way of thinking meant that experts didn’t treat wellbeing as a set of tasks they needed to complete – but rather merely as part of everyday life.

Thuật ngữ này bắt nguồn từ từ “melior” trong tiếng Latinh (tốt hơn) và từ “tropism” trong tiếng Hy Lạp (sự hướng về) . Nó nói về việc hướng tới những điều làm cho cuộc sống đáng sống. Cách suy nghĩ này có nghĩa là các chuyên gia không coi hạnh phúc là một tập hợp các nhiệm vụ mà họ phải hoàn thành – mà đúng hơn chỉ xem đó là một phần của cuộc sống hàng ngày.

It also meant that none of the experts actively “chased” happiness or positivity. When they had a bad day, they just let it be – accepting that life sometimes comes with difficulty.

Điều đó cũng có nghĩa là không có chuyên gia nào tích cực “theo đuổi” sự hạnh phúc hay tính tích cực. Khi họ có một ngày tồi tệ, họ cứ để mọi thứ diễn ra tự nhiên – chấp nhận rằng cuộc sống đôi khi đi kèm với những khó khăn.

Our participants did not make the kind of drastic, intentional changes in their lives that they’d recommend patients make to improve wellbeing. They already regularly did things in their day to day that made their lives feel more meaningful – for example making time to read a book daily, volunteering for a local charity, cooking a favourite meal or even practising yoga.

Những người tham gia nghiên cứu của chúng tôi không thực hiện những thay đổi quyết liệt, có chủ đích trong cuộc sống giống như những gì họ khuyên bệnh nhân nên làm để cải thiện hạnh phúc. Họ đã thường xuyên làm những việc trong cuộc sống hàng ngày giúp cuộc sống của họ có ý nghĩa hơn – ví dụ như dành thời gian đọc sách mỗi ngày, làm tình nguyện cho một tổ chức từ thiện địa phương, nấu một món ăn yêu thích hoặc thậm chí tập yoga.

While these kinds of activities may be recommended as part of a positive psychology programme, the difference here is that the experts did these activities because they were part of their identity or because it helped them feel balanced, instead of only doing them because they’d been advised to.

Mặc dù những loại hoạt động này có thể được khuyến nghị như một phần của chương trình tâm lý học tích cực, điểm khác biệt ở đây là các chuyên gia đã thực hiện những hoạt động này vì chúng là một phần bản thân họ hoặc vì chúng giúp họ cảm thấy cân bằng, thay vì chỉ làm chúng vì họ được khuyên phải làm vậy.

They were also in tune with their bodies, caring for them as attentively as they cared for their minds by prioritising sleep, nourishing food and regular movement.

Họ cũng rất thấu hiểu cơ thể mình, chăm sóc cơ thể cẩn thận như cách họ chăm sóc tâm trí bằng cách ưu tiên giấc ngủ, thực phẩm bổ dưỡng và vận động thường xuyên.

And because they were highly attuned to how their physical and social environment affected them, they weren’t afraid to take proactive steps to protect their wellbeing. For instance, if their work made them unhappy, or if someone in their social circle was consistently draining, they didn’t hesitate to seek alternatives or to limit contact.

Và bởi vì họ rất nhạy bén với cách mà môi trường thể chất và xã hội tác động đến họ, họ không sợ thực hiện các bước chủ động để bảo vệ sự hạnh phúc của mình. Chẳng hạn, nếu công việc khiến họ không hạnh phúc, hoặc nếu ai đó trong vòng tròn xã hội của họ liên tục làm họ kiệt sức, họ không ngần ngại tìm kiếm các lựa chọn thay thế hoặc hạn chế tiếp xúc.

Figure
The experts focused on making small changes everyday to look after their wellbeing and make life feel more meaningful. StockImageFactory.com/ Shutterstock
Các chuyên gia tập trung vào việc thực hiện những thay đổi nhỏ mỗi ngày để chăm sóc đời sống tinh thần và làm cho cuộc sống có ý nghĩa hơn. StockImageFactory.com/ Shutterstock

In addition, they were open to opportunities that allowed them to embrace life. One participant described waiting outside the school to pick up her child. The weather was so beautiful that she slipped off her shoes and walked barefoot across a patch of grass – a simple act that boosted her mood.

Ngoài ra, họ cởi mở với các cơ hội cho phép họ đón nhận cuộc sống. Một người tham gia đã mô tả cảnh cô ấy đang đứng đợi ngoài trường để đón con. Thời tiết đẹp đến mức cô ấy cởi giày và đi chân trần trên một thảm cỏ – một hành động đơn giản nhưng đã vực dậy tâm trạng của cô ấy.

Another one had a really bad day but when she finally got into bed that night, she was struck by a feeling of gratitude for the warmth and safety of her home, compared to all the people who have been displaced by war.

Một người khác đã có một ngày thực sự tồi tệ nhưng khi cuối cùng cô ấy bước lên giường vào tối hôm đó, cô ấy bỗng trào dâng cảm giác biết ơn vì sự ấm áp và an toàn của ngôi nhà mình, so với tất cả những người đã phải tha hương vì chiến tranh.

Their understanding of positive psychology helped them notice these regular opportunities to boost wellbeing.

Sự thấu hiểu của họ về tâm lý học tích cực đã giúp họ nhận ra những cơ hội thường nhật này để nâng cao hạnh phúc.

Mindset change

Thay đổi tư duy

Every year, new wellbeing apps appear, schools incorporate wellbeing into their curricula and organisations invest heavily in workplace wellbeing programmes. Yet the impact of these initiatives remains modest. And, some reports suggest that wellbeing programmes may even have a negative effect.

Mỗi năm, các ứng dụng chăm sóc sức khỏe tinh thần mới xuất hiện, các trường học tích hợp các bài học về hạnh phúc vào chương trình giảng dạy và các tổ chức đầu tư mạnh mẽ vào các chương trình sức khỏe tinh thần tại nơi làm việc. Tuy nhiên, tác động của những sáng kiến này vẫn còn rất khiêm tốn. Và, một số báo cáo cho thấy các chương trình về hạnh phúc thậm chí có thể mang lại tác động tiêu cực.

Our study’s findings may help explain why the impact of these programmes is so varied – and shows these positive activities may not be as effective for people who have applied wellbeing practices extensively in their lives.

Những phát hiện từ nghiên cứu của chúng tôi có thể giúp giải thích tại sao tác động của các chương trình này lại rất khác nhau – và cho thấy các hoạt động tích cực này có thể không hiệu quả đối với những người đã áp dụng rộng rãi các thực hành tạo hạnh phúc trong đời sống của họ.

The study also highlights an urgent need for positive psychology researchers and experts to rethink their priorities. Rather than creating ever–longer wellbeing programmes or promoting the pursuit of happiness, which evidence shows is not necessarily beneficial, we should focus on understanding the longer–term impact of wellbeing practices.

Nghiên cứu này cũng làm nổi bật nhu cầu cấp thiết đối với các nhà nghiên cứu và chuyên gia tâm lý học tích cực trong việc suy nghĩ lại các ưu tiên của họ. Thay vì tạo ra các chương trình hạnh phúc ngày càng dài hơn hoặc cổ vũ việc theo đuổi hạnh phúc vốn không nhất thiết mang lại lợi ích như các bằng chứng đã chỉ ra, chúng ta nên tập trung tìm hiểu tác động lâu dài của các thực hành tạo hạnh phúc.

For anyone trying to improve their wellbeing, our findings are an important reminder that you don’t have to constantly “work on yourself” or pursue happiness. Experts in wellbeing rarely rely on dramatic life changes or wellbeing programmes.

Đối với bất kỳ ai đang cố gắng cải thiện sự hạnh phúc của mình, những phát hiện của chúng tôi là một lời nhắc nhở quan trọng rằng bạn không phải liên tục “tu rèn bản thân” hay theo đuổi hạnh phúc. Các chuyên gia về hạnh phúc hiếm khi dựa vào những thay đổi kịch tính trong cuộc sống hay các chương trình hạnh phúc.

Instead, they quietly cultivate a mindset that helps orient themselves toward what really matters. It’s not about chasing happiness or forcing ourselves to think positively on a bad day. It’s about gently moving toward the things that make life feel more worthwhile, in ways that fit who you are. That shift in mindset is something that all of us can adopt.

Thay vào đó, họ thầm lặng vun đắp một tư duy giúp định hướng bản thân đến những gì thực sự quan trọng. Vấn đề không phải là theo đuổi hạnh phúc hay ép buộc bản thân phải suy nghĩ tích cực vào một ngày tồi tệ. Mà là nhẹ nhàng hướng tới những điều làm cho cuộc sống trở nên đáng giá hơn, theo những cách phù hợp với con người bạn. Sự dịch chuyển trong tư duy đó là điều mà tất cả chúng ta đều có thể áp dụng.

Jolanta Burke does not work for, consult, own shares in or receive funding from any company or organisation that would benefit from this article, and has disclosed no relevant affiliations beyond their academic appointment.

Jolanta Burke không làm việc, tư vấn, sở hữu cổ phần hoặc nhận tài trợ từ bất kỳ công ty hay tổ chức nào có thể được hưởng lợi từ bài viết này, đồng thời không tiết lộ bất kỳ mối liên hệ nào có liên quan ngoài học hàm học vị của cô ấy.