Dũng cảm là gì, làm thế nào để rèn luyện sự dũng cảm và tại sao bạn nên mạo hiểm

What courage is, how to build it and why you should take a risk

Dũng cảm là gì, làm thế nào để rèn luyện sự dũng cảm và tại sao bạn nên mạo hiểm
Gregory Crawford, President, Miami University Cynthia Pury, Professor of Psychology, Clemson University
Show
Hide
EN – VI
VI – EN
3000-5000 ▼
0-3000
3000-5000
5000-7000
7000-10000

From ancient epics to contemporary headlines, humans have spent centuries canonizing courage as a rare and admirable virtue. Aristotle writes, “You will never do anything in this world without courage.” But what does it really mean to be courageous, and what does it look like in a classroom or a checkout line?

Từ những sử thi cổ đại cho đến các mặt báo đương đại, con người đã dành nhiều thế kỷ để tôn vinh lòng dũng cảm như một đức tính quý hiếm và đáng ngưỡng mộ. Aristotle từng viết: “Bạn sẽ không bao giờ làm được điều gì trên thế giới này nếu thiếu đi sự dũng cảm.” Nhưng thực chất dũng cảm nghĩa là gì, và nó trông ra sao trong một lớp học hay tại quầy thanh toán?

On April 1, 2026, The Conversation hosted a webinar examining the virtue of courage. Panelists Greg Crawford, president of Miami University, and Cynthia Pury, professor of psychology at Clemson University, discussed the different ways we understand courage, how it can be built and why it is a worthwhile risk to take.

Vào ngày 1 tháng 4 năm 2026, The Conversation đã tổ chức một buổi hội thảo trực tuyến xoay quanh đức tính dũng cảm. Các khách mời gồm Greg Crawford, hiệu trưởng Đại học Miami, và Cynthia Pury, giáo sư tâm lý học tại Đại học Clemson, đã thảo luận về những cách hiểu khác nhau của chúng ta về lòng dũng cảm, cách rèn luyện đức tính này và lý do tại sao đây là một sự mạo hiểm đáng giá.

Crawford has leveraged his academic role to elevate entrepreneurship education, innovative research and entrepreneurial startups at Brown University, the University of Notre Dame and Miami University. Pury has consulted on courage with numerous national and international organizations. The webinar has been edited and condensed for print.

Crawford đã tận dụng vai trò học thuật của mình để thúc đẩy giáo dục khởi nghiệp, nghiên cứu đổi mới và các công ty khởi nghiệp tại Đại học Brown, Đại học Notre Dame và Đại học Miami. Pury từng là cố vấn về lòng dũng cảm cho nhiều tổ chức trong và ngoài nước. Nội dung buổi hội thảo đã được biên tập và cô đọng lại cho bản in.

Beth Daley: What are the ingredients of courage?

Beth Daley: Các yếu tố cấu thành lòng dũng cảm là gì?

Greg Crawford: I would break courage down into three areas: taking calculated risks, accepting the possibility of failure and taking action. That sometimes means choosing principles that you’re going to uphold no matter what because it’s a matter of purpose or mission. To quote Maya Angelou: “Courage is the most important of all the virtues, because without courage you can’t practice any other virtue consistently.”

Greg Crawford: Tôi chia lòng dũng cảm thành ba yếu tố: chấp nhận rủi ro có tính toán, chấp nhận khả năng thất bại và hành động. Điều đó đôi khi có nghĩa là lựa chọn những nguyên tắc mà bạn sẽ kiên định bảo vệ bằng mọi giá vì đó là vấn đề về mục đích hoặc sứ mệnh. Trích lời Maya Angelou: “Lòng dũng cảm là đức tính quan trọng nhất, bởi vì nếu không có lòng dũng cảm, bạn không thể thực hành bất kỳ đức tính nào khác một cách nhất quán.”

April 1 webinar led by The Conversation U.S. Executive Editor Beth Daley examining the virtue of courage.
Buổi hội thảo trực tuyến ngày 1 tháng 4 do Tổng biên tập The Conversation tại Mỹ, Beth Daley, chủ trì nhằm bàn về đức tính dũng cảm.

I think the first component or ingredient of courage would be clarity of purpose. Courage isn’t just about action, it’s about a directive action. The second ingredient would be realistic awareness of that risk. You’re not trying to minimize risk nor exaggerate the danger; you’re trying to be balanced so as to understand the consequences of that decision. Finally, courage includes the willingness to act despite fear. We make these decisions, and it’s more about resolve. Fear is never absent in the face of courage.

Tôi nghĩ thành phần hoặc yếu tố đầu tiên của lòng dũng cảm là sự rõ ràng về mục đích. Dũng cảm không chỉ là hành động, mà là hành động có định hướng. Yếu tố thứ hai là nhận thức thực tế về rủi ro đó. Bạn không cố gắng giảm thiểu rủi ro cũng không phóng đại mối nguy hiểm; bạn cố gắng giữ sự cân bằng để hiểu rõ hậu quả của quyết định đó. Cuối cùng, lòng dũng cảm bao gồm sự sẵn sàng hành động bất chấp sợ hãi. Chúng ta đưa ra những quyết định này, và nó thiên về sự quyết tâm nhiều hơn. Nỗi sợ hãi chưa bao giờ biến mất khi đối mặt với lòng dũng cảm.

BD: Are you born with courage, or is it a muscle one can build and teach and learn?

BD: Chúng ta sinh ra đã có sẵn lòng dũng cảm, hay đó là một cơ bắp mà một người có thể rèn luyện, dạy dỗ và học hỏi?

Cynthia Pury: Both yes and no. Even in animals, you see evidence of boldness or exploration despite risk. When we moved houses a few years ago, I watched our cats explore. It was clear that they were afraid, but they were still going to check it out. It’s hard for me to think that my cats learned how to do that. You see that in other animal species, too.

Cynthia Pury: Vừa có vừa không. Ngay cả ở loài vật, bạn cũng thấy bằng chứng về sự táo bạo hoặc tính tò mò khám phá bất chấp rủi ro. Khi chúng tôi chuyển nhà cách đây vài năm, tôi đã quan sát những chú mèo của mình khám phá xung quanh. Rõ ràng là chúng rất sợ hãi, nhưng chúng vẫn quyết định đi kiểm tra. Thật khó để tôi nghĩ rằng những con mèo của tôi đã phải học cách làm điều đó. Bạn cũng có thể thấy điều này ở các loài động vật khác.

The longer I do this, the more I’m convinced that it all comes down to people’s evaluations of the goals and risks of a given situation. So, there are some goals that I would find very easy to be courageous for, like saving someone’s life. Other goals I might not share with others, like my love of doing theater.

Càng làm việc này lâu, tôi càng tin rằng mọi thứ đều bắt nguồn từ cách đánh giá của con người về mục tiêu và rủi ro trong một tình huống nhất định. Do đó, có những mục tiêu mà tôi thấy rất dễ để trở nên dũng cảm, chẳng hạn như cứu mạng ai đó. Những mục tiêu khác có thể tôi không chia sẻ với người khác, ví dụ như niềm đam mê diễn kịch của tôi.

Similarly, there are also some risks that we all agree are universal. Fire is dangerous for every human, and we all are susceptible to being burned. I think that’s one of the reasons firefighters are often the least controversial helper people who are seen as heroic and are part of this “monumental courage,” as professor Robin Kowalski and I call it.

Tương tự, cũng có những rủi ro mà tất cả chúng ta đều công nhận là mang tính phổ quát. Lửa rất nguy hiểm đối với mọi con người, và tất cả chúng ta đều có nguy cơ bị bỏng. Tôi nghĩ đó là một trong những lý do tại sao lính cứu hỏa thường là những người hỗ trợ ít gây tranh cãi nhất, những người được coi là anh hùng và là một phần của cái gọi là “lòng dũng cảm vĩ đại” mà giáo sư Robin Kowalski và tôi thường gọi.

Figure
We are all susceptible to being burned, and perhaps that is why firefighters are universally considered courageous. Cravetiger/Moment via Getty Images
Tất cả chúng ta đều có nguy cơ bị bỏng, và có lẽ đó là lý do tại sao lính cứu hỏa luôn được mọi người công nhận là dũng cảm. Cravetiger/Moment qua Getty Images

We also have situations where people have particular fears or vulnerabilities that aren’t necessarily apparent to others. One of the bravest things I’ve ever seen is a former patient of mine wrapping a gift for his child. This person had experienced horrific wartime trauma at Christmastime and had never given his child a Christmas present and he really wanted to. Wrapping the Christmas present brought back all the terrible things that had happened, and in the context of that – and really understanding PTSD – it was quite courageous.

Chúng ta cũng đối mặt với những tình huống mà con người có những nỗi sợ hãi hoặc sự tổn thương riêng mà người khác chưa chắc đã nhận thấy rõ. Một trong những điều dũng cảm nhất mà tôi từng chứng kiến là một cựu bệnh nhân của tôi gói quà cho con của anh ấy. Người này từng trải qua những chấn thương chiến tranh kinh hoàng vào dịp Giáng sinh, chưa từng tặng quà Giáng sinh cho con và anh ấy thực sự muốn làm điều đó. Việc gói quà Giáng sinh gợi lại tất cả những chuyện tồi tệ đã xảy ra, và trong bối cảnh đó – với sự thấu hiểu sâu sắc về chứng PTSD (rối loạn căng thẳng sau sang chấn) – đó thực sự là một hành động rất dũng cảm.

In a day–to–day setting, a lot of the things people report doing that they say are courageous in their everyday life are things that are particular to them or a form of personal courage.

Trong bối cảnh đời thường, rất nhiều điều mà mọi người tường thuật lại rằng họ đã làm và cho là dũng cảm trong cuộc sống hàng ngày thực ra lại là những điều đặc thù đối với riêng họ hoặc là một hình thức dũng cảm cá nhân.

BD: How do you develop courage as an individual?

BD: Làm thế nào để bạn phát triển lòng dũng cảm cho chính bản thân mình?

GC: At Notre Dame I was involved in raising money for Niemann-Pick Type C, a rare disease. The research center reported to me, but I was a physicist, so I couldn’t do genomics and proteomics and those kinds of things, but I wanted to be involved with it. So I decided to ride my bicycle across the country and raise funds for the Ara Parseghian Medical Research Foundation. People would ask me how I got in shape to bike cross–country, and the fact of the matter is I never did. I just had the courage to start and get in shape along the way.

GC: Tại Đại học Notre Dame, tôi từng tham gia gây quỹ cho căn bệnh Niemann-Pick loại C, một căn bệnh hiếm gặp. Trung tâm nghiên cứu trực thuộc quyền quản lý của tôi, nhưng tôi là một nhà vật lý học nên không thể làm các công việc liên quan đến bộ gen, protein hay những thứ đại loại như vậy, dù vậy tôi vẫn muốn tham gia. Vì vậy, tôi quyết định đạp xe băng qua đất nước để gây quỹ cho Quỹ Nghiên cứu Y học Ara Parseghian. Mọi người thường hỏi tôi làm thế nào để có thể rèn luyện thể lực nhằm đạp xe xuyên quốc gia, sự thật là tôi chưa bao giờ làm điều đó cả. Tôi chỉ đơn giản là có đủ can đảm để bắt đầu và tự rèn luyện vóc dáng trên suốt chặng đường đi.

I would tell people today, you’ll take these leadership positions and jobs, and you’ll never be ready because everything changes and comes at you quicker than ever before. You need to have the courage to get in shape along the way, be flexible and have confidence.

Ngày nay, tôi thường nói với mọi người rằng, bạn sẽ đảm nhận các vị trí lãnh đạo và công việc này, và bạn sẽ chẳng bao giờ thực sự sẵn sàng vì mọi thứ thay đổi và ập đến với bạn nhanh hơn bao giờ hết. Bạn cần phải có sự dũng cảm để tự tôi rèn luyện trên mỗi bước đường đi, biết linh hoạt và giữ vững sự tự tin.

At one point, earlier in my career, I was talking about how my hit rate on grants was 20% or 30%. A lay person had asked me if that means I waste 70% of my time. I think my answer today is absolutely not, because I spend 100% of my time developing courage. Sometimes you have to try things over and over again. You keep pushing, and a failure or a misstep often results in a great answer later down the road. So there’s an element of courage when you do fail, but you keep learning, progressing and advancing, and then it comes full circle and you finally get there.

Có thời điểm, vào giai đoạn đầu sự nghiệp, tôi từng bàn về việc tỷ lệ thành công khi xin tài trợ của tôi chỉ là 20% hay 30%. Một người ngoại đạo từng hỏi tôi điều đó có nghĩa là tôi lãng phí 70% thời gian của mình không. Tôi nghĩ câu trả lời của tôi ngày nay là hoàn toàn không, bởi vì tôi dành 100% thời gian của mình để phát triển lòng dũng cảm. Đôi khi bạn phải thử đi thử lại nhiều lần. Bạn cứ tiếp tục nỗ lực, và một thất bại hay bước hụt thường sẽ mang lại một kết quả tuyệt vời ở chặng đường phía sau. Vì vậy, luôn có một yếu tố dũng cảm khi bạn thất bại nhưng vẫn tiếp tục học hỏi, tiến bước và phát triển, để rồi cuối cùng mọi thứ trọn vẹn và bạn cũng đạt được mục tiêu.

BD: How does failure relate to courage?

BD: Thất bại có mối quan hệ như thế nào với lòng dũng cảm?

CP: Failure is really tied, more than people think it is, to how courageous action is perceived. If you decide to move to the other side of the country to take your dream job, but then the company folds when you get there, you’re not as likely to think that the move was courageous in retrospect.

CP: Thất bại thực sự gắn liền với cách nhìn nhận về một hành động dũng cảm nhiều hơn là mọi người vẫn tưởng. Nếu bạn quyết định chuyển đến sống ở bờ bên kia đất nước để nhận công việc mơ ước của mình, nhưng rồi công ty lại phá sản ngay khi bạn đặt chân tới đó, nhìn lại quá khứ, bạn sẽ ít có khả năng coi quyết định chuyển nhà đó là dũng cảm.

The Carnegie Medal for heroism, for example, has rewarded people’s acts of physical bravery mostly in instances where the would–be rescuer dies and the would–be victim lives. Not a single time was it rewarded when the would–be rescuer lived and the would–be victim died. And I find that kind of startling.

Chẳng hạn, Huy chương Carnegie cho hành động anh dũng thường trao thưởng cho những hành động dũng cảm về mặt thể xác của con người, chủ yếu trong các trường hợp mà người định cứu hộ thiệt mạng còn nạn nhân thì sống sót. Chưa từng có một lần nào giải thưởng này được trao khi người định cứu hộ sống sót còn nạn nhân lại qua đời. Và tôi thấy điều đó thật đáng kinh ngạc.

In my research, people say that a courageous thing they did was something that made a situation better and didn’t make it worse. When they try to do something and fail, people don’t report their action to be courageous. And even people who say that it doesn’t matter if you succeed or fail still end up rating the courageousness of failed things the same way as everybody else does. So that’s definitely something to be aware of and look out for.

Trong nghiên cứu của tôi, mọi người thường cho rằng một hành động dũng cảm mà họ đã làm là hành động khiến tình huống trở nên tốt hơn chứ không làm nó tồi tệ đi. Khi họ cố gắng làm điều gì đó nhưng lại thất bại, họ thường không coi hành động của mình là dũng cảm. Và ngay cả những người tuyên bố rằng thành công hay thất bại không quan trọng thì cuối cùng vẫn đánh giá mức độ dũng cảm của những việc thất bại giống như tất cả những người khác. Vì vậy, đó chắc chắn là điều chúng ta cần nhận thức và lưu ý.

Figure
We tend to view failed actions as less courageous than successful ones. Oleg Breslavtsev/Moment via Getty Images
Chúng ta có xu hướng xem những hành động thất bại là ít dũng cảm hơn so với những hành động thành công. Oleg Breslavtsev/Moment qua Getty Images

BD: What does a courageous conversation actually look like in practice, especially when delivering difficult feedback or talking to people who don’t agree with us?

BD: Một cuộc trò chuyện dũng cảm thực tế sẽ trông như thế nào, đặc biệt là khi đưa ra những lời góp ý khó nghe hoặc khi nói chuyện với những người không đồng quan điểm với chúng ta?

GC: It’s important to normalize dissent as part of the process. When you can control and manage dissent, you can advance ideas in a much better way. I would say sometimes when you get criticism and so forth, it’s a good thing. Some people would call it a gift that you’re able to have the courage to either push back or to be open to influence and change your mind.

GC: Việc bình thường hóa sự bất đồng quan điểm như một phần của quá trình là rất quan trọng. Khi bạn có thể kiểm soát và quản lý sự bất đồng, bạn có thể thúc đẩy các ý tưởng theo một cách tốt hơn rất nhiều. Tôi muốn nói rằng đôi khi khi bạn nhận được những lời chỉ trích này nọ, đó lại là một điều tốt. Một số người sẽ gọi đó là một món quà khi bạn có đủ can đảm để phản bác hoặc cởi mở tiếp thu ảnh hưởng và thay đổi suy nghĩ của mình.

In today’s world, criticism comes nonstop and all the time in these leadership roles. So there’s courage in accepting it and not being defensive about it, and there’s also courage in trying to find a solution and an answer to it, and in some cases acknowledging it and moving forward.

Trong thế giới ngày nay, những lời chỉ trích xuất hiện liên tục và không ngừng nghỉ trong các vai trò lãnh đạo này. Do đó, cần có lòng dũng cảm để đón nhận nó mà không tỏ ra phòng thủ, và cũng cần có lòng dũng cảm khi cố gắng tìm ra giải pháp và câu trả lời cho nó, thậm chí trong một số trường hợp là thừa nhận nó và tiếp tục tiến bước.

BD: In terms of political courage, when there seems to be a collective consensus about what the right thing to do is, why don’t people act when they want to or others feel like they should?

BD: Xét về lòng dũng cảm chính trị, khi dường như đã có sự đồng thuận chung về việc đâu là điều đúng đắn nên làm, tại sao mọi người lại không hành động khi họ muốn hoặc khi ngườiอื่น cảm thấy họ nên làm vậy?

CP: I wonder how much of what we see with political courage is people having different views about what the right thing is to do in this situation. Is it the right thing to take a stand here? Is this the thing to have your political career die on? Or is it more courageous to just let this go and be there for whatever the next thing is?

CP: Tôi tự hỏi bao nhiêu phần trăm những gì chúng ta thấy ở lòng dũng cảm chính trị thực ra là việc mọi người có những quan điểm khác nhau về điều gì mới là đúng đắn trong tình huống này. Liệu có đúng đắn không khi đứng lên bảo vệ quan điểm ở đây? Liệu đây có phải là vấn đề để đánh đổi cả sự nghiệp chính trị của bạn không? Hay việc buông bỏ và chuẩn bị sẵn sàng cho bất kỳ điều gì tiếp theo mới là hành động dũng cảm hơn?

I also wonder how much of the courage talk in politics is people signaling, “I value this, I don’t value this.” Having the humility to listen to another side seems to be an important and missing virtue.

Tôi cũng tự hỏi bao nhiêu phần trăm những lời bàn về lòng dũng cảm trong chính trị thực chất chỉ là việc mọi người đang ra tín hiệu rằng: “Tôi coi trọng điều này, tôi không coi trọng điều kia.” Việc có sự khiêm nhường để lắng nghe một khía cạnh khác dường như là một đức tính quan trọng nhưng lại đang bị thiếu hụt.

The Carnegie Hero Medal analysis mentioned in the webinar was conducted based on awards handed out in 2008.

Phân tích về Huy chương Anh hùng Carnegie được đề cập trong buổi hội thảo dựa trên các giải thưởng được trao vào năm 2008.

Cynthia Pury has received funding from the American Psychological Association and the Department of Defense. She is affiliated with Alchemy Comedy Theater, Greenville, SC.

Cynthia Pury đã nhận được tài trợ từ Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ và Bộ Quốc phòng. Cô có liên kết với Alchemy Comedy Theater, Greenville, SC.

Gregory Crawford does not work for, consult, own shares in or receive funding from any company or organization that would benefit from this article, and has disclosed no relevant affiliations beyond their academic appointment.

Gregory Crawford không làm việc, tư vấn, sở hữu cổ phần hoặc nhận tài trợ từ bất kỳ công ty hay tổ chức nào có thể hưởng lợi từ bài viết này, đồng thời không tiết lộ bất kỳ mối liên hệ nào ngoài các chức danh học thuật của mình.