Những gì tôi tìm thấy khi quét bộ não của trẻ em đang sáng tác giai điệu trên đàn piano

What I found when I scanned the brains of kids creating tunes on the piano

Những gì tôi tìm thấy khi quét bộ não của trẻ em đang sáng tác giai điệu trên đàn piano
Karen Barrett, Assistant Professor, Institute for Health & Aging, University of California, San Francisco
Show
Hide
EN – VI
VI – EN
3000-5000 ▼
0-3000
3000-5000
5000-7000
7000-10000

Research shows that improvisation and creativity are good for the brain. In an episode of the Greater Good Science Center’s “Science of Happiness” podcast, host Shuka Kalantari talked to Karen Barrett about what happens in the brain when people improvise music. Barrett is an assistant professor in the Institute for Health & Aging at the University of California, San Francisco who researches the effects of music on aging and health.

Nghiên cứu cho thấy việc ứng tấu và sự sáng tạo rất tốt cho bộ não. Trong một tập của podcast “Science of Happiness” thuộc Greater Good Science Center, người dẫn chương trình Shuka Kalantari đã trò chuyện với Karen Barrett về những gì diễn ra trong não bộ khi con người ứng tấu âm nhạc. Barrett là phó giáo sư tại Viện Lão hóa và Sức khỏe thuộc Đại học California, San Francisco, chuyên nghiên cứu về tác động của âm nhạc đối với quá trình lão hóa và sức khỏe.

Shuka Kalantari: What led you to improv?

Shuka Kalantari: Điều gì đã đưa chị đến với âm nhạc ứng tấu?

Karen Barrett: My dad was a scientist and classical guitarist, and my mom played piano. So I actually started playing piano when I was 5 years old and ended up going to Wellesley College to double–major in music and neuroscience.

Karen Barrett: Bố tôi là một nhà khoa học kiêm nghệ sĩ guitar cổ điển, còn mẹ tôi chơi piano. Vì vậy, tôi thực sự bắt đầu chơi piano từ năm 5 tuổi và cuối cùng theo học tại Cao đẳng Wellesley để lấy bằng kép về âm nhạc và khoa học thần kinh.

I did my master’s in piano performance and then found out about this Ph.D. in music cognition which could blend music and neuroscience. That’s how I got started on this career path.

Tôi hoàn thành bằng thạc sĩ biểu diễn piano và sau đó biết đến chương trình tiến sĩ ngành nhận thức âm nhạc – nơi có thể kết hợp giữa âm nhạc và khoa học thần kinh. Đó là cách tôi bước vào con đường sự nghiệp này.

Then, I started my postdoc at UCSF with Charles Limb, who’s a jazz musician. He was a big improviser and was already studying it. I found it a little bit magical and fascinating because it’s not something I do very easily.

Sau đó, tôi bắt đầu làm nghiên cứu sinh sau tiến sĩ tại UCSF cùng Charles Limb, một nghệ sĩ nhạc jazz. Ông ấy là một người rất giỏi ứng tấu và lúc đó đang nghiên cứu về lĩnh vực này. Tôi thấy điều đó có chút gì đó kỳ diệu và hấp dẫn bởi vì đó không phải là việc mà tôi có thể dễ dàng làm được.

I think improv has made me less rigid. There’s no right or wrong way; there just is. If you make a mistake, do it over and over again, and it’s no longer a mistake. It can lead you to your next motive.

Tôi nghĩ việc ứng tấu đã giúp tôi bớt cứng nhắc hơn. Không có cách nào là đúng hay sai cả; mọi thứ đơn giản là chính nó. Nếu bạn làm sai, hãy cứ lặp đi lặp lại điều đó, và nó sẽ không còn là một lỗi sai nữa. Nó có thể dẫn dắt bạn đến với ý tưởng tiếp theo của mình.

Kalantari: What happens in the brain when a person is playing something memorized versus improvised?

Kalantari: Điều gì xảy ra trong não bộ khi một người chơi một bản nhạc đã được ghi nhớ sẵn so với khi họ ứng tấu?

Barrett: Music is what we call multimodal. It activates all sorts of domains in the brain: the listening center, pattern perception, visual, emotional, motor and proprioception areas. It is biologically powerful that way.

Barrett: Âm nhạc là thứ mà chúng ta gọi là đa phương thức (multimodal) . Nó kích hoạt đủ loại vùng trong não: trung tâm thính giác, nhận thức mẫu, các vùng thị giác, cảm xúc, vận động và cảm giác bản thể. Bản thân âm nhạc đã có sức mạnh sinh học theo cách đó.

Figure
Music is multimodal, meaning it activates many areas of the brain. Encyclopaedia Britannica/Universal Images Group via Getty Images
Âm nhạc mang tính đa phương thức, nghĩa là nó kích hoạt nhiều vùng của não bộ. Encyclopaedia Britannica/Universal Images Group qua Getty Images

Charles Limb’s original study from 2008 took expert jazz pianists and had them either improvise or play something that they had memorized. When they improvised, they deactivated a portion of the brain called the dorsolateral prefrontal cortex, which is like turning off self-judgment. They activated a portion of the brain called the medial prefrontal cortex, which is involved when you want to increase your own artistic voice.

Nghiên cứu ban đầu của Charles Limb vào năm 2008 đã chọn các nghệ sĩ piano jazz chuyên nghiệp và yêu cầu họ hoặc ứng tấu hoặc chơi một thứ gì đó đã được ghi nhớ trong đầu. Khi ứng tấu, họ làm vô hiệu hóa một phần của não gọi là vỏ não trước trán lưng bên (dorsolateral prefrontal cortex) , giống như việc tắt đi khả năng tự phán xét bản thân. Họ kích hoạt một phần của não gọi là vỏ não trước trán giữa (medial prefrontal cortex) , tham gia vào quá trình khi bạn muốn thể hiện tiếng nói nghệ thuật của chính mình.

We found that when you’re improvising, you have a different set of activities in your brain compared to when you’re playing. In other words, improvisation is a form of generative creativity. You’re suddenly on the spot, within a certain context, trying to create music. And so that’s why we have unique neural areas that are involved in improvisation.

Chúng tôi thấy rằng khi bạn đang ứng tấu, bạn có một tập hợp các hoạt động não bộ khác hẳn so với khi bạn đang chơi một bài bình thường. Nói cách khác, ứng tấu là một dạng sáng tạo sinh thành. Bạn bất ngờ phải đối mặt với tình huống, trong một ngữ cảnh nhất định, và cố gắng sáng tạo ra âm nhạc. Và đó là lý do tại sao chúng ta có các vùng thần kinh độc đáo tham gia vào quá trình ứng tấu.

Kalantari: Recently you published research on musical improv with children. How did it come about that you went from studying trained professionals to children?

Kalantari: Gần đây chị đã công bố nghiên cứu về âm nhạc ứng tấu ở trẻ em. Cơ duyên nào đưa chị từ việc nghiên cứu các chuyên gia được đào tạo bài bản sang trẻ em?

Barrett: There’s all this work in creativity about expertise. These trained musicians have had years of practice. They have all these schemas and licks in their brain from having studied for so long that they can pull out when they’re playing. But what about the beginners? What about kids?

Barrett: Có rất nhiều công trình nghiên cứu về sự sáng tạo liên quan đến chuyên môn. Những nhạc sĩ được đào tạo bài bản này đã có nhiều năm luyện tập. Họ có sẵn tất cả các cấu trúc nhận thức và đoạn nhạc ngẫu hứng trong đầu nhờ học tập lâu năm để có thể lấy ra sử dụng khi biểu diễn. Nhưng còn những người mới bắt đầu thì sao? Còn trẻ em thì sao?

Figure
As part of her study, Karen asked children to play a simple scale. Tayutau/Moment via Getty Images
Trong một phần của nghiên cứu, Karen đã yêu cầu trẻ em chơi một âm giai đơn giản. Tayutau/Moment qua Getty Images

From a neuroplasticity and a brain activity perspective, we know that kids are highly able to learn new things, right? They don’t operate the same way adults do, and I wanted to see if I could capture the kind of raw creativity that kids have.

Từ góc độ tính dẻo của não bộ và hoạt động não, chúng ta biết rằng trẻ em có khả năng học hỏi những điều mới rất cao, phải không? Các bé không hoạt động theo cách giống như người lớn, và tôi muốn xem liệu mình có thể nắm bắt được sự sáng tạo nguyên bản vốn có ở trẻ em hay không.

We prepped them a lot for the fMRI, a special type of MRI machine that allows us to image the brain. I had them play the “statue game” to show them how still they needed to be. And I had this little mini–keyboard hooked up to my laptop, and I kind of acted like their first piano teacher. First, I taught them a scale. Then, I had them play the notes in whatever order they wanted.

Chúng tôi đã chuẩn bị cho các em rất kỹ trước khi chụp fMRI, một loại máy chụp cộng hưởng từ đặc biệt cho phép chúng tôi ghi hình não bộ. Tôi yêu cầu các em chơi “trò chơi bức tượng” để cho các em thấy mình cần phải ngồi yên lặng đến mức nào. Và tôi có một chiếc bàn phím nhỏ kết nối với máy tính xách tay của mình, tôi đóng vai trò như giáo viên piano đầu tiên của các em. Đầu tiên, tôi dạy các em một âm giai. Sau đó, tôi yêu cầu các em chơi các nốt nhạc theo bất kỳ thứ tự nào các em muốn.

Kalantari: Tell us what you found, and how that affects the way that you think about creativity.

Kalantari: Hãy chia sẻ những gì chị đã tìm thấy, và điều đó ảnh hưởng thế nào đến cách chị suy nghĩ về sự sáng tạo.

Barrett: First off, like many of the other studies from our lab, we found that improvising was a very different process from playing the scale. That in itself shows that maybe there’s something innate about this creativity.

Barrett: Trước hết, giống như nhiều nghiên cứu khác từ phòng thí nghiệm của chúng tôi, chúng tôi nhận thấy rằng việc ứng tấu là một quá trình rất khác so với việc chơi một âm giai thông thường. Bản thân điều đó cho thấy có lẽ sự sáng tạo này mang tính bẩm sinh.

The main thing about their brains when they’re improvising as opposed to playing that scale is that it’s mostly about deactivation. When we plot this in brain maps, we use red to show activation and blue to show deactivation. Their brains were mostly blue.

Điều chính yếu trong não bộ của trẻ khi ứng tấu so với khi chơi âm giai đó là quá trình vô hiệu hóa (deactivation) chiếm ưu thế. Khi chúng tôi biểu diễn điều này trên bản đồ não bộ, chúng tôi dùng màu đỏ để chỉ sự kích hoạt và màu xanh lam để chỉ sự vô hiệu hóa. Não của các em hầu như toàn màu xanh lam.

Figure
Brain scans taken while the children were playing improvised music showed neural deactivation, represented in blue. Karen Barrett/Scientific Reports, CC BY
Bản quét não được thực hiện khi trẻ em chơi nhạc ứng tấu cho thấy sự vô hiệu hóa thần kinh, được thể hiện bằng màu xanh lam. Karen Barrett/Scientific Reports, CC BY

The places that they were deactivating are all sensory hubs, meaning they’re not having some sort of artistic voice that’s coming out. Unlike the jazz musicians, where the medial prefrontal cortex just activates to show their own artistic voice, these kids are just kind of doing this activity, and they’re not doing it from this artistic place.

Những nơi bị vô hiệu hóa đều là các trung tâm cảm giác, có nghĩa là không có một thứ tiếng nói nghệ thuật nào đó đang phát ra từ đó. Khác với các nghệ sĩ jazz – nơi vỏ não trước trán giữa kích hoạt để thể hiện tiếng nói nghệ thuật của riêng họ, những đứa trẻ này chỉ đang thực hiện hoạt động này một cách bình thường chứ không xuất phát từ một không gian nghệ thuật nào cả.

But then on top of that, those structures are actually all areas of the brain that are involved in creativity in adults. The kids haven’t had a chance to develop the way adults have, so maybe these areas are the beginning of the creativity network that we eventually see in adults.

Nhưng hơn thế nữa, những cấu trúc đó thực ra đều là các vùng não tham gia vào quá trình sáng tạo ở người lớn. Trẻ em chưa có cơ hội phát triển như người lớn, vì vậy có lẽ những vùng này chính là điểm khởi đầu của mạng lưới sáng tạo mà cuối cùng chúng ta thấy ở người lớn.

The most surprising finding was that improvisation engages reward structures more than playing that scale. And that wasn’t found as easily in the jazz musicians. What does that tell us about creativity being something possibly built into how the brain works, rather than something that’s learned through training?

Phát hiện đáng ngạc nhiên nhất là việc ứng tấu kích hoạt các cấu trúc phần thưởng nhiều hơn so với việc chơi âm giai đó. Và điều này không dễ dàng tìm thấy ở các nghệ sĩ nhạc jazz. Điều đó cho chúng ta biết gì về việc sự sáng tạo có khả năng được tích hợp sẵn trong cách hoạt động của não bộ, thay vì là thứ được học qua quá trình đào tạo?

I think the fMRI scanning kind of captures the beginner’s mind and shows that we all have a capability to be creative without training at all.

Tôi nghĩ việc quét fMRI đã nắm bắt được tâm thế của người mới bắt đầu và cho thấy rằng tất cả chúng ta đều có khả năng sáng tạo mà không cần qua bất kỳ sự huấn luyện nào.

Kalantari: What is your coolest takeaway from the study?

Kalantari: Đâu là điều đọng lại tuyệt vời nhất của chị từ nghiên cứu này?

Barrett: I think what I want people to realize is that doing the arts is inherently valuable, but also very good for the brain and health. We can leverage the fact that creativity and music uses these unique parts of your brain for our own health and benefit.

Barrett: Tôi nghĩ điều tôi muốn mọi người nhận ra là việc làm nghệ thuật vốn dĩ mang giá trị nội tại, đồng thời cũng rất tốt cho não bộ và sức khỏe. Chúng ta có thể tận dụng thực tế là sự sáng tạo và âm nhạc sử dụng những phần độc đáo trong não bộ để mang lại lợi ích cho sức khỏe của chính mình.

My biggest takeaway is that we need to get out of our own way, turn off that critic and be creative. Maybe it’s not music; maybe it’s coloring, painting or embroidery. Just doing it is rewarding for the brain, so I’m going to do it, and I don’t need to be good at it.

Điều đọng lại lớn nhất đối với tôi là chúng ta cần phải vượt qua chính mình, tắt đi những lời chê bai phán xét và hãy cứ sáng tạo. Có thể đó không phải là âm nhạc; có thể là tô màu, vẽ tranh hoặc thêu thùa. Việc làm những điều đó mang lại phần thưởng cho não bộ, thế nên tôi sẽ làm, và tôi không cần phải giỏi việc đó.

Knowing we all have the capacity to be creative has really taken off a lot of these shackles that I would normally put on myself. When you realize that improvisation is really fundamental to all our lives, that we’re doing it all the time, it makes it a little easier to do.

Việc biết rằng tất cả chúng ta đều có năng lực sáng tạo đã thực sự tháo gỡ rất nhiều xiềng xích mà tôi thường tự trói buộc mình. Khi bạn nhận ra rằng sự ứng tấu thực sự là điều cốt lõi trong mọi cuộc sống của chúng ta, rằng chúng ta đang làm điều đó mọi lúc, thì việc thực hiện nó sẽ trở nên dễ dàng hơn một chút.

Karen Barrett receives funding from the National Endowment for the Arts (NEA) , the National Institutes for Health (NIH) , the Hearing Research Institute, and UCSF School of Nursing.

Karen Barrett nhận được tài trợ từ Quỹ Nghệ thuật Quốc gia (NEA) , Viện Y tế Quốc gia (NIH) , Viện Nghiên cứu Thính giác và Trường Điều dưỡng UCSF.