Các huyền thoại về hiếp dối định hình cách chúng ta ứng phó với bạo lực tình dục. Chúng là gì và có tác động ra sao?

Rape myths shape how we respond to sexual violence. What are they and what impact do they have?

Các huyền thoại về hiếp dối định hình cách chúng ta ứng phó với bạo lực tình dục. Chúng là gì và có tác động ra sao?
Jane Gilmore, PhD candidate, Monash Gender and Family Violence Prevention Hub, Monash University
Show
Hide
EN – VI
VI – EN
3000-5000 ▼
0-3000
3000-5000
5000-7000
7000-10000

NSW Premier Chris Minns has announced significant changes to the way sexual assault trials are conducted, including moving to curb “rape myth questions”.

Thủ hiến bang New South Wales, Chris Minns, đã công bố những thay đổi đáng kể đối với cách thức tiến hành các phiên tòa xét xử tội danh tấn công tình dục, trong đó có động thái nhằm hạn chế “các câu hỏi mang định kiến về hiếp dâm.”

This is a pilot program in a suite of potential reforms the NSW government says will reduce the trauma victim–survivors of rape and sexual assault experience at trial.

Đây là một chương trình thí điểm nằm trong chuỗi các cải cách tiềm năng mà chính phủ bang New South Wales cho biết sẽ giúp giảm thiểu sang chấn cho các nạn nhân kiêm người sống sót sau các vụ hiếp dâm và tấn công tình dục tại phiên tòa.

What are rape myths?

Lầm tưởng về hiếp dâm là gì?

Rape myths are a set of false beliefs that minimise, erase or justify men’s choice to commit sexual violence.

Lầm tưởng về hiếp dâm là tập hợp những niềm tin sai lệch nhằm giảm nhẹ, xóa bỏ hoặc biện minh cho hành vi bạo lực tình dục do nam giới gây ra.

These myths are often centred around an idea of “real rape”- a script that lists all the conditions that must be met before a rape can be taken seriously. It is only then, according to this script, that everyone can believe the person who says they were raped and demand accountability from the person who committed the rape.

Những lầm tưởng này thường xoay quanh khái niệm về “vụ hiếp dâm thực sự” – một kịch bản liệt kê tất cả các điều kiện phải được đáp ứng trước khi một vụ hiếp dâm có thể được xem xét nghiêm túc. Chỉ khi đó, theo kịch bản này, mọi người mới có thể tin tưởng nạn nhân và yêu cầu kẻ thực hiện hành vi hiếp dâm phải chịu trách nhiệm.

This script says rape is only “real” when the victim is a young, conventionally attractive and morally unassailable woman. The textbook victim is violently attacked at night in a public place by a man she does not know. He is immediately recognisable as a monster, motivated either by uncontrollable lust for her beauty or by deviant desires that instantly mark him as separate from “normal” and “good” men. He uses physical force to penetrate her. She screams, fights back and receives visible physical injuries.

Kịch bản này cho rằng một vụ hiếp dâm chỉ là “thật sự” khi nạn nhân là một phụ nữ trẻ, có ngoại hình thu hút theo quan4 niệm thông thường và có đạo đức không thể chê trách. Nạn nhân kiểu mẫu là người bị tấn công bạo lực vào ban đêm ở nơi công cộng bởi một người đàn ông mà cô không quen biết. Kẻ đó hiện nguyên hình là một tên quái vật, được thúc đẩy bởi ham muốn không thể kìm nát đối với sắc đẹp của cô hoặc bởi những ham muốn lệch lạc khiến hắn lập tức bị tách biệt khỏi những người đàn ông “bình thường” và “tốt đẹp.” Hắn dùng vũ lực thể xác để xâm hại cô. Cô hét lên, chống trả và chịu những thương tích thể xác có thể nhìn thấy được.

After the rape, her attacker flees, and she immediately reports the rape to police, where her story is taken seriously, her injuries are documented, her attacker is identified, and the case quickly proceeds to trial.

Sau vụ hiếp dâm, kẻ tấn công bỏ trốn, và cô lập tức báo cảnh sát, nơi câu chuyện của cô được tiếp nhận nghiêm túc, các vết thương được ghi nhận, kẻ tấn công được nhận dạng và vụ án nhanh chóng được đưa ra xét xử.

Whenever she is asked, no matter what the circumstances, she can recall every detail in its exact chronological order. She is tearful but not wildly emotional, numb or angry.

Bất cứ khi nào được hỏi, dù trong hoàn cảnh nào, cô ấy đều có thể nhớ lại từng chi tiết theo đúng trình tự thời gian. Cô rơi nước mắt nhưng không quá xúc động, tê dại hay tức giận.

Alcohol and drug use are also embedded in rape myths. Typically they are used to reduce responsibility for men who commit rape, but increase blame for women who are raped.

Việc sử dụng rượu và ma túy cũng gắn liền với những lầm tưởng về hiếp dâm. Thông thường, chúng được dùng để giảm nhẹ trách nhiệm cho những người đàn ông thực hiện hành vi hiếp dâm, nhưng lại làm tăng mức độ đổ lỗi cho những phụ nữ bị hiếp dâm.

Rape myths also weave themselves into myths about race, age, disability and sexuality.

Những lầm tưởng về hiếp dâm cũng đan xen vào các định kiến về chủng tộc, tuổi tác, khuyết tật và xu hướng tình dục.

The fetishisation of women of colour and the revolting myths that black women are “oversexed” or Asian women are “hypersexualised” immediately places them outside the pure young girl requirement for “real rape”.

Việc thi vị hóa phụ nữ da màu và những lầm tưởng ghê tởm cho rằng phụ nữ da đen “quá ham muốn tình dục” hoặc phụ nữ châu Á “quá cuồng nhiệt tình dục” đã lập tức đẩy họ ra ngoài tiêu chuẩn về cô gái thuần khiết vốn là yêu cầu của một “vụ hiếp dâm thực sự.”

Equally, racist myths about black men being incapable of controlling sexual urges (particularly their assumed desire to rape white women) cast them into the monster myth. It also highlights white men as the protective white knights who could not possibly fit the monster role.

Tương tự, những lầm tưởng mang tính phân biệt chủng tộc cho rằng đàn ông da đen không có khả năng kiềm chế ham muốn tình dục (đặc biệt là giả định về ham muốn cưỡng hiếp phụ nữ da trắng của họ) đã biến họ thành hình mẫu quái vật. Điều này cũng làm nổi bật hình ảnh đàn ông da trắng như những hiệp sĩ áo trắng bảo vệ, những người hoàn toàn không thể đóng vai ác thú.

Rape myths erase sexual violence against older women (who are presumed to have lost all sexual interest and desirability) and people with disabilities, who are also presumed to have no sexuality or desirability.

Những lầm tưởng về hiếp dâm xóa nhòa bạo lực tình dục đối với phụ nữ lớn tuổi (những người bị cho là đã mất hết mọi hứng thú và sức hấp dẫn tình dục) và người khuyết tật, những người cũng bị coi là không có giới tính hay sự hấp dẫn.

Straight men, trans people, non-binary people, lesbians and gay men are all erased from the myth of “real rape” by their separation from the ideal victim construction.

Nam giới dị tính, người chuyển giới, người phi nhị nguyên giới, người đồng tính nữ và nam giới đồng tính đều bị gạt ra khỏi lầm tưởng về “vụ hiếp dâm thực sự” vì họ không phù hợp với cấu trúc nạn nhân lý tưởng.

The backdrop to all these myths is the persistent belief that false allegations are common and explain every deviation from the “real rape” script.

Nền tảng của tất cả những lầm tưởng này là niềm tin dai dẳng rằng các cáo buộc giả là phổ biến và dùng để giải thích cho mọi sự sai lệch so với kịch bản “hiếp dâm thực sự.”

This myth remains stubbornly rooted, even among young people, despite evidence that false rape allegations are rare (and usually not malicious when they do occur.

Lầm tưởng này vẫn bám rễ một cách ngoan cố, ngay cả trong giới trẻ, bất chấp bằng chứng cho thấy các cáo buộc hiếp dâm giả là rất hiếm (và thường không mang ác ý khi chúng xảy ra) .

Research shows most people, even when they say no to questions about the false allegations myth in surveys, still start with a default position that a woman who says she was raped is lying until proven otherwise.

Nghiên cứu cho thấy hầu hết mọi người, ngay cả khi họ trả lời không trước các câu hỏi về lầm tưởng cáo buộc giả trong các cuộc khảo sát, vẫn bắt đầu với một mặc định rằng một phụ nữ tố cáo bị hiếp dâm là đang nói dối cho đến khi có bằng chứng ngược lại.

Men who have been accused of rape, on the other hand, are rarely assumed to have responsibility to ask for or monitor consent.

Mặt khác, những người đàn ông bị buộc tội hiếp dâm hiếm khi bị mặc định là có trách nhiệm phải xin phép hoặc kiểm tra sự đồng thuận.

What is the reality?

Thực tế là gì?

There is no script and there is no such thing as “real rape”. There’s just rape. While acts of sexual violence may have some common characteristics, the experience and circumstances are different for every person. Very few of those experiences, however, fit the “real rape” script.

Không có kịch bản nào và cũng không có cái gọi là “hiếp dâm thực sự”. Chỉ có hành vi hiếp dâm. Mặc dù các hành vi bạo lực tình dục có thể có một số đặc điểm chung, nhưng trải nghiệm và hoàn cảnh của mỗi người là khác nhau. Tuy nhiên, rất ít trải nghiệm trong số đó khớp với kịch bản “hiếp dâm thực sự”.

Rape myths are not just a harmless set of beliefs that operate independently of the people (mostly men and boys) who are committing rape – usually against women and girls but also disproportionately against non-binary, trans and bisexual people.

Các định kiến sai lầm về hiếp dâm không chỉ là một tập hợp các niềm tin vô hại tồn tại độc lập với những người (chủ yếu là nam giới và bé trai) thực hiện hành vi hiếp dâm – thường là đối với phụ nữ và trẻ em gái nhưng cũng tỉ lệ thuận đối với những người phi nhị nguyên giới, chuyển giới và song tính.

Research over the past three decades has repeatedly shown a connection between belief in rape myths and sexual violence perpetration.

Nghiên cứu trong ba thập kỷ qua đã liên tục chỉ ra mối liên hệ giữa niềm tin vào các định kiến sai lầm về hiếp dâm và việc thực hiện hành vi bạo lực tình dục.

There is also evidence that believing in rape myths is associated with deciding to not report rape and sexual assault. In 2021/22, only 8% of women who have been raped or sexually assaulted reported it to police. This rate has more than halved since 2012, when it was 19%.

Cũng có bằng chứng cho thấy việc tin vào các định kiến hiếp dâm có liên quan đến quyết định không báo cáo hành vi hiếp dâm và tấn công tình dục. Trong năm 2021/22, chỉ có 8% phụ nữ bị hiếp dâm hoặc tấn công tình dục báo cáo với cảnh sát. Tỷ lệ này đã giảm hơn một nửa kể từ năm 2012, khi đó là 19%.

In 2025, the Australian Law Reform Commission reported the system is failing victim survivors – and failing in its purpose – because it is not holding the men and boys (or anyone else) who commits rape and sexual assault accountable for their choice to commit these crimes.

Vào năm 2025, Ủy ban Cải cách Luật pháp Australia đã báo cáo rằng hệ thống này đang thất bại đối với những nạn nhân sống sót – và thất bại trong mục tiêu của chính nó – vì nó không buộc những người nam giới và bé trai (hoặc bất kỳ ai khác) phạm tội hiếp dâm và tấn công tình dục phải chịu trách nhiệm về lựa chọn phạm tội của họ.

This is not a new observation. The Royal Commission into Human Relationships made very similar observations of the legal system back in 1977. Both reports identified rape myths as significant contributors to these failings.

Đây không phải là một nhận xét mới. Ủy ban Hoàng gia về Quan hệ Con người đã đưa ra những nhận xét rất tương tự về hệ thống pháp lý vào năm 1977. Cả hai báo cáo đều xác định các định kiến sai lầm về hiếp dâm là yếu tố đóng góp lớn vào những thất bại này.

Rape myths are not simply negative attitudes to women. They are deeply held beliefs about sex, gender, violence and justice. They are more widespread than we want to believe and more damaging than we can imagine. This is the reality, not the mythology, of rape.

Các định kiến về hiếp dâm không đơn thuần là thái độ tiêu cực đối với phụ nữ. Chúng là những niềm tin ăn sâu về tình dục, giới tính, bạo lực và công lý. Chúng phổ biến hơn những gì chúng ta muốn tin và gây hại nhiều hơn những gì chúng ta có thể tưởng tượng. Đây là thực tế, không phải là huyền thoại về hiếp dâm.

Jane Gilmore does not work for, consult, own shares in or receive funding from any company or organisation that would benefit from this article, and has disclosed no relevant affiliations beyond their academic appointment.

Jane Gilmore không làm việc, làm cố vấn, sở hữu cổ phần hoặc nhận kinh phí từ bất kỳ công ty hay tổ chức nào có lợi từ bài viết này, và không công khai bất kỳ liên kết liên quan nào ngoài bổ nhiệm học thuật của họ.