Bạn cần bao nhiêu tiền để hạnh phúc? Nghiên cứu nói gì về điều này?

How much money do you need to be happy? Here’s what the research says

Bạn cần bao nhiêu tiền để hạnh phúc? Nghiên cứu nói gì về điều này?
Brad Elphinstone, Lecturer in psychology, Swinburne University of Technology
Show
Hide
EN – VI
VI – EN
3000-5000 ▼
0-3000
3000-5000
5000-7000
7000-10000

Over the next decade, Elon Musk could become the world’s first trillionaire. The Tesla board recently proposed a US$1 trillion (A$1.5 trillion) compensation plan, if Musk can meet a series of ambitious growth targets.

Trong thập kỷ tới, Elon Musk có thể trở thành tỷ phú nghìn tỷ đầu tiên trên thế giới. Hội đồng quản trị Tesla gần đây đã đề xuất gói đền bù trị giá 1 nghìn tỷ USD (1,5 nghìn tỷ AUD) , nếu Musk có thể đạt được một loạt mục tiêu tăng trưởng đầy tham vọng.

Australia’s corporate pay packets aren’t quite on that scale. Yet even here, on Friday it was reported departing Virgin chief executive Jayne Hrdlicka will collect nearly $50 million in shares and other cash benefits on her way out the door.

Các gói đãi ngộ dành cho lãnh đạo doanh nghiệp tại Úc chưa đạt đến quy mô đó. Dù vậy, ngay tại đây, vào thứ Sáu đã có báo cáo cho biết cựu Giám đốc điều hành Virgin, bà Jayne Hrdlicka, sẽ thu về gần 50 triệu đô la cổ phiếu và các khoản phúc lợi bằng tiền mặt khác khi rời khỏi chiếc ghế nóng.

Research from the United States suggests people think the average CEO earns ten times more than the average worker – and would prefer it was closer to only five times more.

Nghiên cứu từ Hoa Kỳ cho thấy mọi người nghĩ rằng mức lương trung bình của một CEO cao gấp mười lần so với nhân viên bình thường – và họ kỳ vọng con số này chỉ nên gấp khoảng năm lần.

In fact, the real gap in the US over the past decade has been estimated to mean CEOs earn a staggering 265 to 300 times more than average US workers.

Trên thực tế, khoảng cách thực sự tại Mỹ trong thập kỷ qua được ước tính là các CEO kiếm được gấp 265 đến 300 lần so với nhân viên Mỹ thông thường – một con số thực sự đáng kinh ngạc.

Australians think CEOs earn seven times more than the average worker and would prefer if it was only three times more.

Người Úc nghĩ rằng các CEO kiếm được gấp bảy lần so với nhân viên bình thường và mong muốn con số đó chỉ là ba lần.

But the real gap here is also much higher. A long–running study found CEOs of the top 100 Australian companies earned 55 times more last financial year than average workers.

Nhưng khoảng cách thực tế ở đây cũng cao hơn rất nhiều. Một nghiên cứu kéo dài cho thấy các CEO của 100 công ty hàng đầu nước Úc kiếm được gấp 55 lần so với nhân viên bình thường trong năm tài chính vừa qua.

So, how much money is enough?

Vậy, bao nhiêu tiền là đủ?

People have asked this question for thousands of years. The ancient Greek philosopher Aristotle explained the idea of eudaimonia, or a roadmap of “living well”, saying it:

Con người đã đặt ra câu hỏi này trong hàng ngàn năm. Triết gia người Hy Lạp cổ đại Aristotle đã giải thích khái niệm eudaimonia, hay một cẩm nang về “cách sống tốt đẹp”, khi ông cho rằng nó:

belongs more to those who have cultivated their character and mind to the uttermost, and kept acquisition of external goods within moderate limits, than it does to those who have managed to acquire more external goods than they can possibly use, and are lacking goods of the soul.
thuộc về những ai đã trau dồi nhân cách và trí tuệ của mình đến mức tối thượng, đồng thời giữ việc tích lũy của cải vật chất ở mức độ vừa phải, hơn là những người tìm mọi cách tích lũy nhiều của cải vật chất hơn mức họ có thể sử dụng và thiếu đi sự giàu có trong tâm hồn.

Aristotle’s philosophy doesn’t call on us to shun money or wealth entirely, but argues it shouldn’t become life’s sole focus.

Triết học của Aristotle không kêu gọi chúng ta né tránh tiền bạc hay sự giàu có hoàn toàn, nhưng lập luận rằng nó không nên trở thành mục đích sống duy nhất.

Research over recent decades has come to different conclusions on how much money is needed to achieve peak wellbeing.

Nghiên cứu trong những thập kỷ gần đây đã đưa ra các kết luận khác nhau về số tiền cần thiết để đạt đến mức độ hạnh phúc tối ưu.

A US study in 2010 suggested wellbeing maxes out around US$75,000. This figure naturally needs to be increased today to account for inflation – which, if those research findings are still true today, would be closer to US$111,000 in today’s dollars. You’d also need to take into account the cost of living in your area.

Một nghiên cứu của Mỹ vào năm 2010 cho thấy mức độ hạnh phúc đạt đỉnh ở khoảng 75.000 USD. Con số này tự nhiên cần phải được tăng lên ngày nay để tính đến lạm phát – nếu những kết quả nghiên cứu đó vẫn đúng cho đến ngày nay, thì nó sẽ tương đương khoảng 111.000 USD theo giá trị đồng tiền hiện tại. Bạn cũng cần phải tính đến chi phí sinh hoạt tại khu vực của mình.

Other findings suggest wellbeing may continually increase with growing wealth, but the increase in wellbeing from $1 million to $10 million is likely less than when someone moves from poverty to middle class.

Các kết quả khác cho thấy mức độ hạnh phúc có thể tiếp tục gia tăng khi sự giàu có tăng lên, nhưng sự gia tăng hạnh phúc từ 1 triệu USD lên 10 triệu USD có lẽ ít hơn so với khi một người chuyển từ nghèo đói lên tầng lớp trung lưu.

A 2022 experiment studied 200 people from Brazil, Indonesia, Kenya, Australia, Canada, the United States and the United Kingdom who were randomly given US$10,000 (A$15,000 at today’s exchange rate) .

Một thí nghiệm năm 2022 đã nghiên cứu 200 người đến từ Brazil, Indonesia, Kenya, Úc, Canada, Hoa Kỳ và Vương quốc Anh, những người được cho ngẫu nhiên 10.000 USD (15.000 AUD theo tỷ giá hiện tại) .

It found people in lower income countries “exhibited happiness gains three times larger than those in higher–income countries”, including Australia. But that cash still provided detectable benefits for people with household incomes up to US$123,000 (roughly A$184,000 today) .

Nghiên cứu phát hiện ra rằng những người ở các quốc gia có thu nhập thấp hơn “có mức độ gia tăng hạnh phúc cao gấp ba lần so với những người ở các quốc gia có thu nhập cao hơn”, bao gồm cả Úc. Nhưng số tiền đó vẫn mang lại những lợi ích có thể nhận thấy rõ đối với những người có thu nhập hộ gia đình lên tới 123.000 USD (khoảng 184.000 AUD hiện nay) .

Remarkably, the people in that experiment (explained from 4:42 minutes into the video below) gave away more than two–thirds of that money to family, friends, strangers and charities.

Điều đáng chú ý là những người tham gia thí nghiệm đó (được giải thích từ phút 4:42 trong đoạn video bên dưới) đã đem tặng hơn 2/3 số tiền đó cho gia đình, bạn bè, người lạ và các tổ chức từ thiện.

Valuing time and relationships

Đánh giá cao thời gian và các mối quan hệ

Decades of international research have consistently shown materialistic goals – acquiring wealth and possessions for reasons associated with image and status – undermine wellbeing.

Hàng thập kỷ nghiên cứu quốc tế đã liên tục chỉ ra rằng các mục tiêu vật chất – theo đuổi sự giàu có và tài sản vì những lý do liên quan đến hình ảnh và địa vị – làm suy giảm hạnh phúc.

This is because materialistic striving is often borne out of low self–esteem or tending to compare oneself negatively to others, and there is always someone else to compare yourself against.

Điều này là do sự theo đuổi vật chất thường bắt nguồn từ lòng tự trọng thấp hoặc xu hướng so sánh bản thân theo chiều hướng tiêu cực với người khác, trong khi luôn có một ai đó khác để bạn so sánh.

People can get stuck on the “hedonic treadmill”, where they get used to their new level of wealth and the luxuries it provides and then need more to feel happy.

Con người có thể bị kẹt trong “vòng xoáy thích nghi” (hedonic treadmill) , nơi họ quen với mức độ giàu có mới cùng những xa hoa mà nó mang lại, và sau đó lại cần nhiều hơn thế để cảm thấy hạnh phúc.

It’s also because the work needed to acquire that wealth can mean less time focusing on hobbies and with loved ones.

Nguyên nhân cũng nằm ở chỗ công việc cần thiết để kiếm được khối tài sản đó có thể khiến họ có ít thời gian hơn để tập trung vào sở thích và ở bên những người thân yêu.

Harvard research tracking two generations of men and their children over their lives, going back to 1938, shows deep, meaningful relationships with others are key to mental and physical wellbeing.

Nghiên cứu của Harvard theo dõi hai thế hệ nam giới và con cái của họ xuyên suốt cuộc đời họ, bắt đầu từ năm 1938, cho thấy các mối quan hệ sâu sắc, có ý nghĩa với những người khác là chìa khóa dẫn đến sức khỏe tinh thần và thể chất.

American psychologist Abraham Maslow developed a “hierarchy” of people’s “needs” in 1943. This suggested “self-actualisation” – reaching your pinnacle of personal growth – starts by having enough money to cover the basics of food, shelter, and access to the opportunities needed to grow as a person.

Nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow đã phát triển một “tháp nhu cầu” của con người vào năm 1943. Điều này cho thấy “sự tự khẳng định bản thân” – đạt đến đỉnh cao của sự phát triển cá nhân – bắt đầu bằng việc có đủ tiền để trang trải các nhu cầu cơ bản như thực phẩm, nơi trú ẩn, và khả năng tiếp cận các cơ hội cần thiết để phát triển như một con người.

In line with this, research has shown “time affluence” (maximising free time by paying people to do things you don’t want to) and “experiential buying” (for example, meals out with loved ones, going on holidays) can support wellbeing by helping people develop new skills, build relationships, and create lifelong memories.

Phù hợp với điều này, nghiên cứu đã chỉ ra rằng “sự dư dả thời gian” (tối đa hóa thời gian rảnh bằng cách thuê người làm những việc bạn không muốn làm) và “mua sắm trải nghiệm” (ví dụ: đi ăn nhà hàng với người thân, đi du lịch) có thể hỗ trợ hạnh phúc bằng cách giúp mọi người phát triển các kỹ năng mới, xây dựng mối quan hệ và tạo ra những kỷ niệm suốt đời.

It’s in most of our interests to close the wealth gap

Thu hẹp khoảng cách giàu nghèo là lợi ích của hầu hết chúng ta

Recent data shows economic inequality in Australia is increasing. This is particularly affecting young Australians, as housing becomes less affordable.

Dữ liệu gần đây cho thấy bất bình đẳng kinh tế ở Úc đang gia tăng. Điều này đặc biệt ảnh hưởng đến giới trẻ Úc, khi nhà ở ngày càng trở nên kém vừa túi tiền hơn.

At a broader social level, research from the UK indicates that as inequality increases, social outcomes get worse. These include increased crime, drug and alcohol abuse, obesity as people struggle to afford nutritious food, and reductions in social trust.

Ở cấp độ xã hội rộng lớn hơn, nghiên cứu từ Vương quốc Anh chỉ ra rằng khi bất bình đẳng gia tăng, các kết quả xã hội sẽ trở nên tồi tệ hơn. Chúng bao gồm gia tăng tội phạm, lạm dụng ma túy và rượu, béo phì do người dân chật vật để mua được thực phẩm bổ dưỡng, và sự suy giảm lòng tin xã hội.

What percentage of wealth do you think is owned by the richest 20% of Australians? And in your ideal Australia, how much wealth should the richest 20% own?

Bạn nghĩ bao nhiêu phần trăm tài sản thuộc sở hữu của 20% những người Úc giàu nhất? Và trong một nước Úc lý tưởng của bạn, 20% người giàu nhất nên sở hữu bao nhiêu tài sản?

The most recent Bureau of Statistics data we have, from 2019-20, showed the richest 20% of Australians owned around 62% of our wealth.

Dữ liệu mới nhất của Cục Thống kê mà chúng ta có, từ giai đoạn 2019-2020, cho thấy 20% người Úc giàu nhất sở hữu khoảng 62% tổng tài sản của chúng ta.

As inequality gets worse, evidence suggests it will lead to social problems that threaten to undermine the wellbeing of the whole community.

Khi tình trạng bất bình đẳng trở nên tồi tệ hơn, các bằng chứng cho thấy nó sẽ dẫn đến các vấn đề xã hội có nguy cơ làm suy yếu hạnh phúc của toàn bộ cộng đồng.

The irony is those who pursue extreme wealth and benefit most from this inequality will not necessarily be happier or more fulfilled because of it.

Trớ trêu thay, những kẻ theo đuổi sự giàu có cực đoan và hưởng lợi nhiều nhất từ sự bất bình đẳng này sẽ không nhất thiết trở nên hạnh phúc hơn hay mãn nguyện hơn vì điều đó.

Brad Elphinstone does not work for, consult, own shares in or receive funding from any company or organisation that would benefit from this article, and has disclosed no relevant affiliations beyond their academic appointment.

Brad Elphinstone không làm việc cho, tư vấn cho, sở hữu cổ phần trong hoặc nhận tài trợ từ bất kỳ công ty hoặc tổ chức nào có thể được hưởng lợi từ bài viết này, đồng thời không tiết lộ mối liên hệ nào có liên quan ngoài học hàm học vị của mình.