Những người có sức ảnh hưởng (influencer) đầu tiên trên thế giới là người Pháp và họ xuất hiện sau cuộc Cách mạng

The world’s first influencers were French and they emerged after the Revolution

Những người có sức ảnh hưởng (influencer) đầu tiên trên thế giới là người Pháp và họ xuất hiện sau cuộc Cách mạng
Emma Schwak, PhD Reseacher in the Department of History, European University Institute
Show
Hide
EN – VI
VI – EN
3000-5000 ▼
0-3000
3000-5000
5000-7000
7000-10000

In 1806, the Parisian gastronome Grimod de la Reynière launched a new periodical, the Journal des Gourmands et des Belles in post–revolutionary France. From the first issue, it set out to provide readers with advice on food, fashion, and theatrical life, all in one publication. Almost entirely forgotten today, the journal was perhaps the first of its kind in France to bring together such a full range of what we would now call lifestyle content. Early 19th century language aside, it resembles the all-encompassing Instagram accounts of some of today’s influencers. Its author was already famous for the Almanach des Gourmands (1803-1812) , the founding text of gastronomic criticism and the first restaurant guide in history.

Vào năm 1806, nhà ẩm thực người Paris Grimod de la Reynière đã cho ra mắt một ấn phẩm định kỳ mới mang tên Journal des Gourmands et des Belles tại nước Pháp thời hậu cách mạng. Ngay từ số đầu tiên, ấn phẩm này đã đặt mục tiêu cung cấp cho độc giả những lời khuyên về ẩm thực, thời trang và đời sống sân khấu, tất cả trong cùng một tài liệu xuất bản. Dù ngày nay hầu như đã bị lãng quên, tạp chí này có lẽ là tờ báo đầu tiên ở Pháp kết hợp đầy đủ các nội dung mà ngày nay chúng ta gọi là phong cách sống. Gạt bỏ ngôn ngữ của đầu thế kỷ 19 sang một bên, nó rất giống với các tài khoản Instagram toàn diện của một số influencer hiện nay. Tác giả của nó lúc bấy giờ đã nổi tiếng với tác phẩm Almanach des Gourmands (1803-1812) , văn bản nền tảng của phê bình ẩm thực và là cuốn cẩm nang nhà hàng đầu tiên trong lịch sử.

Such influential figures were not, of course, without precedent. While conduct manuals, culinary guides, and trade gazettes had been prescribing behaviour and etiquette long before the French Revolution in 1789, the real change that ensued after the French people’s uprising was not so much the existence of such style guidance but the nature, volume, and, above all, the urgency of the advice that became widely available. While these works from the Ancien Régime addressed readers who already knew where they stood in society and needed to perform in a certain manner in order to secure a certain standing on the social ladder, post–revolutionary guides appealed to readers whose social status was uncertain or newly acquired. The question people asked themselves at that time shifted from how do I behave well in society? to how do I belong?

Tất nhiên, những nhân vật có tầm ảnh hưởng như vậy không phải là không có tiền lệ. Trong khi các sách hướng dẫn cách ứng xử, cẩm nang ẩm thực và các ấn phẩm thương mại đã định hình hành vi và phép xã giao từ rất lâu trước cuộc Cách mạng Pháp năm 1789, sự thay đổi thực sự diễn ra sau cuộc nổi dậy của người dân Pháp không nằm nhiều ở sự tồn tại của những hướng dẫn phong cách đó, mà ở bản chất, khối lượng và trên hết là tính cấp thiết của những lời khuyên ngày càng trở nên phổ biến rộng rãi. Trong khi các tác phẩm thời Cựu chế độ (Ancien Régime) này hướng tới những độc giả đã biết rõ vị thế của mình trong xã hội và cần phải thể hiện theo một cách nhất định để củng cố địa vị trên thang bậc xã hội, thì các hướng dẫn thời hậu cách mạng lại thu hút những độc giả có địa vị xã hội chưa chắc chắn hoặc mới đạt được. Câu hỏi mà mọi người tự đặt làm lúc bấy giờ đã chuyển từ tôi phải ứng xử như thế nào cho phải phép trong xã hội? sang làm thế nào để tôi hòa nhập vào đây?

The unexpected trajectories of post–revolutionary lifestyle ‘influencers’ and the content they provided reflect the social, professional and even physical mobility (caused by exile, return or displacement) of the era that resulted from the Revolution, compared to the rigidity of the Ancien Régime. Grimod de la Reynière himself had been a lawyer turned theatre critic turned fine grocer, before reinventing himself as a food writer. Journalist and publisher Pierre de La Mésangère was a former priest who became the editor of the Journal des Dames et des Modes from 1797 to 1831, the longest–running fashion periodical of that period. After the French Revolution, Madame Campan who had been Marie-Antoinette’s head lady–in–waiting founded an elite boarding or ‘finishing’ school on the outskirts of Paris in Saint-Germain-en-Laye where the daughters of the new and old elite were groomed alongside one another in aristocratic etiquette.

Quỹ đạo bất ngờ của những ‘influencer’ phong cách sống thời hậu cách mạng và nội dung họ cung cấp phản ánh sự dịch chuyển về mặt xã hội, nghề nghiệp và thậm chí là thể chất (do lưu vong, trở về hoặc tha hương) của thời kỳ bắt nguồn từ Cách mạng, so với sự cứng nhắc của Cựu chế độ. Bản thân Grimod de la Reynière từng là một luật sư chuyển sang làm nhà phê bình sân khấu rồi thành chủ tiệm tạp hóa cao cấp, trước khi tái định hình bản thân thành một nhà văn viết về ẩm thực. Nhà báo kiêm nhà xuất bản Pierre de La Mésangère vốn là một cựu linh mục, người đã trở thành biên tập viên của tạp chí Journal des Dames et des Modes từ năm 1797 đến năm 1831, tờ báo định kỳ về thời trang tồn tại lâu nhất trong giai đoạn đó. Sau Cách mạng Pháp, Madame Campan – cựu nữ quan cận thần đứng đầu của Hoàng hậu Marie-Antoinette – đã thành lập một trường nội trú ưu tú hay còn gọi là trường nữ công gia chánh ở vùng ngoại ô Paris tại Saint-Germain-en-Laye, nơi con gái của giới thượng lưu mới và cũ được nuôi dưỡng cùng nhau về phép xã giao quý tộc.

Tastemaking, initially a «French affair»

Việc tạo ra xu hướng, ban đầu là một «câu chuyện mang phong cách Pháp»

In post–revolutionary France, an eccentric mix of individuals, united by a single ambition: to carry forth the cultural codes of the Ancien Régime in a world where the cards had been reshuffled, and where taste and material culture (or objects and the system of meaning attached to them, how they were chosen, displayed, and read by others) , were more than ever socially determining.

Tại nước Pháp thời hậu cách mạng, một sự kết hợp kỳ lạ của những cá nhân, được gắn kết bởi một tham vọng duy nhất: tiếp nối các quy chuẩn văn hóa của Cựu chế độ trong một thế giới mà các quân bài đã được xáo trộn lại, và nơi gu thẩm mỹ cùng văn hóa vật chất (hoặc các đồ vật và hệ thống ý nghĩa gắn liền với chúng, cách chúng được lựa chọn, trưng bày và được người khác nhìn nhận) , hơn bao giờ hết, đóng vai trò quyết định đến vị thế xã hội.

Official taste, too, found its arbiters: Napoleon’s appointed architects Charles Percier and Pierre François Léonard Fontaine whose Recueil de décorations intérieures codified the Empire style for anyone with the means to adopt it.

Gu thẩm mỹ chính thống cũng tìm thấy những người cầm cân nảy mực cho riêng mình: các kiến trúc sư được Napoleon chỉ định là Charles Percier và Pierre François Léonard Fontaine, những người đã hệ thống hóa phong cách Đế chế (Empire style) qua tác phẩm Recueil de décorations intérieures dành cho bất kỳ ai đủ điều kiện để áp dụng nó.

Out with the old, in with the wives of financiers

Gạt bỏ cái cũ, chào đón những người vợ của giới tài phiệt

Figure
Andrea Appiani’s 1798 portrait of Caribbean-born Madame Hamelin, one of Paris’ trendsetting Merveilleuses who defined Parisian fashion during the Directory era (1789-1804) . Wikimedia
Bức chân dung năm 1798 của Andrea Appiani vẽ Madame Hamelin gốc Caribe, một trong những Merveilleuses tạo xu hướng ở Paris, người đã định hình thời trang Paris dưới thời kỳ Đốc chính (1789-1804) . Wikimedia

As for female fashion leadership, it had changed hands entirely. Before the Revolution, France’s fashion ‘establishment’ was made up of royal consorts or royal mistresses, from Madame de Pompadour to Marie-Antoinette. After 1789, influence shifted to the high–profile wives of bankers and financiers, noblewomen or socialites, like Juliette Récamier, Thérésa Tallien, Fortunée Hamelin whose interiors and dress were observed, imitated, and commented upon by the press run by figures like Pierre de La Mésangère.

Về quyền lãnh đạo thời trang nữ, quyền lực này đã đổi chủ hoàn toàn. Trước Cách mạng, ‘giới chóp bu’ thời trang của nước Pháp bao gồm các hoàng hậu hoặc sủng phi của hoàng gia, từ Madame de Pompadour đến Marie-Antoinette. Sau năm 1789, tầm ảnh hưởng chuyển sang những người vợ nổi tiếng của các chủ ngân hàng và nhà tài phiệt, các nữ quý tộc hoặc nhân vật nổi tiếng trong xã hội, như Juliette Récamier, Thérésa Tallien, Fortunée Hamelin – những người có không gian nội thất và trang phục được quan sát, bắt chước và bình luận bởi giới báo chí được điều hành bởi những nhân vật như Pierre de La Mésangère.

Madame Hamelin, a Creole woman from the Caribbean island of Saint Domingue and today the least remembered of the three, was counted as one of the Merveilleuses,a group of influential women whose extravagant, neoclassical way of dressing defined the Directoire years. Hamelin’s hairstyles and tunics were widely copied, and her salon at the Hôtel de Bourrienne was one of the most brilliant in post–revolutionary Paris.

Madame Hamelin, một phụ nữ gốc Creole đến từ hòn đảo Saint Domingue thuộc vùng Caribe và hiện là người ít được nhắc đến nhất trong số ba người, được coi là một trong số những Merveilleuses, một nhóm phụ nữ có tầm ảnh hưởng với lối ăn mặc xa hoa, mang phong cách tân cổ điển đã định hình những năm tháng của thời kỳ Đốc chính. Kiểu tóc và trang phục dạng áo dài tunic của Hamelin đã được sao chép rộng rãi, và salon của bà tại khách sạn Hôtel de Bourrienne là một trong những nơi lừng lẫy nhất ở Paris thời hậu cách mạng.

For these tastemakers, taste was never a matter of isolated choices but an entire way of living, encompassing everything from food to wallpaper to bed linen, and their ambition was to shape taste comprehensively.

Đối với những người định hình xu hướng này, gu thẩm mỹ không bao giờ là vấn đề của những lựa chọn đơn lẻ mà là toàn bộ lối sống, bao gồm mọi thứ từ thực phẩm đến giấy dán tường và ga trải giường, và tham vọng của họ là định hình gu thẩm mỹ một cách toàn diện.

Meanwhile across the English Channel

Trong khi đó ở phía bên kia Ê-c-măng (Eo biển Anh)

Of course, such guides existed elsewhere. In Britain, where the Industrial Revolution had been remoulding society for several decades already, comparable figures had emerged. Josiah Wedgwood cultivated royal endorsements and educated a rising middle class in neoclassical taste, turning manufacture into cultural authority.

Tất nhiên, những cẩm nang như vậy cũng tồn tại ở những nơi khác. Tại Anh, nơi Cách mạng Công nghiệp đã định hình lại xã hội trong vài thập kỷ, những nhân vật tương tự đã xuất hiện. Josiah Wedgwood đã tạo dựng sự ủng hộ từ hoàng gia và giáo dục tầng lớp trung lưu đang nổi lên về gu thẩm mỹ tân cổ điển, biến việc sản xuất thành quyền lực văn hóa.

Figure
George Romney’s portrait (1791) of British influencer, actress, dancer and model Lady Hamilton. Wikimedia
Bức chân dung năm 1791 của George Romney vẽ nữ influencer, diễn viên, vũ công và người mẫu người Anh Lady Hamilton. Wikimedia

English socialite Beau Brummell (1778-1840) , born neither noble nor wealthy, made the Prince of Wales defer to his judgement on the cut of a lapel.

Nhà xã hội học người Anh Beau Brummell (1778-1840) , sinh ra không phải quý tộc cũng chẳng giàu có, đã khiến Thân vương xứ Wales phải nể trọng phán quyết của ông về đường cắt của một chiếc ve áo.

Emma Hamilton, born Amy Lyon in 1765 into a Cheshire blacksmith’s family, became one of Europe’s most followed women, her image disseminated through Romney’s portraits, much as Juliette Récamier’s image was thanks to French Neoclassical painter Jacques-Louis David. Social authority was not built on birth but rather on personal charisma and the visual culture of that time.

Emma Hamilton, sinh năm 1765 với tên khai sinh là Amy Lyon trong một gia đình thợ rèn ở Cheshire, đã trở thành một trong những phụ nữ được theo dõi nhiều nhất châu Âu, hình ảnh của bà được lan truyền qua các bức chân dung của Romney, giống như hình ảnh của Juliette Récamier nhờ họa sĩ Tân cổ điển người Pháp Jacques-Louis David. Quyền lực xã hội không được xây dựng dựa trên nguồn gốc xuất thân mà dựa trên sức hút cá nhân và văn hóa thị giác vào thời điểm đó.

What set the French case apart was not the existence of these figures but the conditions that produced them. The end of the Reign of Terror had unleashed a hunger for pleasures long suppressed. Napoleon actively encouraged the revival of the luxury trades – silk, furniture, jewellery, porcelain – as both economic policy and political legitimacy.

Điểm làm cho trường hợp của Pháp trở nên khác biệt không phải là sự tồn tại của những nhân vật này mà là các điều kiện đã tạo ra họ. Sự kết thúc của Thời kỳ khủng bố (Reign of Terror) đã giải phóng cơn khát những khao khát vui chơi vốn bị kìm nén bấy lâu. Napoleon tích cực khuyến khích sự hồi sinh của các ngành nghề xa xỉ – lụa, đồ nội thất, trang sức, đồ sứ – vừa như một chính sách kinh tế vừa như một sự hợp

The revolution of fortunes was itself a product of the revolutionary years: fortunes had been made through the acquisition of biens nationaux (the confiscated estates of the nobility and clergy sold off by the state) , through agiotage (speculative trading on the currency and the public debt that flourished amid revolutionary chaos) , and through army supply contracts.

Bản thân sự đổi thay về tài sản cũng là sản phẩm của những năm tháng cách mạng: của cải được tạo ra thông qua việc thâu tóm biens nationaux (các điền trang bị tịch thu của giới quý tộc và tăng lữ được bán bởi nhà nước) , thông qua agiotage (giao dịch đầu cơ tiền tệ và nợ công phát triển mạnh giữa sự hỗn loạn của cách mạng) , và thông qua các hợp đồng cung cấp quân sự.

From 1808, the creation of an imperial nobility then institutionalised the rise of a new elite: administrators and army officers who had clambered through the Revolution now held titles without the cultural inheritance that traditionally accompanied them. While a marshal of the Empire may be a duke, he still needed to be told how to furnish his table and how to host guests.

Từ năm 1808, việc tạo ra tầng lớp quý tộc đế chế sau đó đã thể chế hóa sự trỗi dậy của một tầng lớp thượng lưu mới: các nhà quản lý và sĩ quan quân đội từng bước lên qua Cách mạng giờ đây nắm giữ các tước hiệu nhưng lại thiếu đi di sản văn hóa vốn đi kèm với chúng theo truyền thống. Mặc dù một thống soái của Đế chế có thể là công tước, ông ta vẫn cần được chỉ bảo cách bài trí bàn ăn và cách tiếp đãi khách.

The restaurant, a Parisian invention of the revolutionary years, had meanwhile created an entirely new kind of public space in which taste could be performed, observed, and judged by strangers – and where a guide like Grimod’s could present itself, not without self–interest, as an indispensable necessity.

Nhà hàng, một phát minh mang tính Paris của những năm tháng cách mạng, trong khi đó đã tạo ra một loại không gian công cộng hoàn toàn mới, nơi gu thẩm mỹ có thể được thể hiện, quan sát và đánh giá bởi những người xa lạ – và nơi một cuốn cẩm nang như của Grimod có thể tự giới thiệu, không phải không vì tư lợi, như một nhu cầu thiết yếu không thể thiếu.

In Britain, social change had been gradual: new industrial fortunes and a rising military elite had joined the old aristocracy without displacing it. The existing order absorbed its newcomers. In France, on the other hand, the Revolution had done something more disruptive: a far–reaching recomposition of the social world was observed, in which administrators, military men, newly made fortunes and returning noblemen and women found themselves navigating the same rooms, salons or balls, for instance, without a ‘shared map’. This is what made the post–revolutionary tastemaker a quintessentially French invention that was not a guide for a society on the move, but a bridge towards learning to speak France’s first common cultural language.

Tại Anh, sự thay đổi xã hội diễn ra từ từ: sự giàu có mới từ công nghiệp và tầng lớp thượng lưu quân sự đang nổi lên đã hòa nhập với giới quý tộc cũ mà không làm họ bị gạt ra lề. Trật tự hiện tại đã hấp thụ những người mới đến. Ngược lại, ở Pháp, cuộc Cách mạng đã tạo ra một điều gì đó mang tính phá vỡ hơn nhiều: một sự tái cấu trúc sâu rộng của thế giới xã hội đã diễn ra, trong đó các nhà quản lý, quân nhân, những khối tài sản mới phất và các nhà quý tộc nam nữ trở về thấy mình đang cùng bước đi trong những căn phòng, salon hoặc vũ hội, mà không có một ‘bản đồ chung’. Chính điều này đã biến người định hình xu hướng thời hậu cách mạng trở thành một phát minh mang bản chất Pháp tiêu biểu, không phải là một cẩm nang cho một xã hội đang chuyển động, mà là một nhịp cầu hướng tới việc học cách nói ngôn ngữ văn hóa chung đầu tiên của nước Pháp.

What this tells us is that we often treat the art of lifestyle influencing as a uniquely modern phenomenon, but the practice actually began in post–revolutionary Paris, and when we look to digital arbiters to curate our tastes, we are, in fact, continuing a tradition invented by Grimod de la Reynière and his influential contemporaries.

Điều này cho chúng ta thấy rằng chúng ta thường coi nghệ thuật gây ảnh hưởng phong cách sống như một hiện tượng hoàn toàn hiện đại, nhưng thực tế thực hành này đã bắt đầu ở Paris thời hậu cách mạng, và khi chúng ta tìm đến những người định đoạt kỹ thuật số để tuyển chọn gu thẩm mỹ của mình, chúng ta thực ra đang tiếp tục một truyền thống do Grimod de la Reynière và những người đương thời có ảnh hưởng của ông phát minh ra.

Emma Schwak ne travaille pas, ne conseille pas, ne possède pas de parts, ne reçoit pas de fonds d’une organisation qui pourrait tirer profit de cet article, et n’a déclaré aucune autre affiliation que son organisme de recherche.

Emma Schwak không làm việc, không tư vấn, không sở hữu cổ phần, không nhận tài trợ từ bất kỳ tổ chức nào có thể hưởng lợi từ bài viết này và không khai báo bất kỳ mối liên hệ nào khác ngoài tổ chức nghiên cứu của cô.