Kiệt quệ không phải là điều mới mẻ — Các hồ sơ nông nghiệp thế kỷ 18 cho thấy người lao động từng mô tả tình trạng kiệt sức tương tự

Burnout isn’t new — 18th-century farm records show workers describing the same exhaustion

Kiệt quệ không phải là điều mới mẻ — Các hồ sơ nông nghiệp thế kỷ 18 cho thấy người lao động từng mô tả tình trạng kiệt sức tương tự
Nathan TeBokkel, Banting Postdoctoral Fellow in English and Geography, Western University
Show
Hide
EN – VI
VI – EN
3000-5000 ▼
0-3000
3000-5000
5000-7000
7000-10000

Nearly 40 per cent of Canadian workers say they feel burnt out often or always, according to a 2025 survey by Mental Health Research Canada and Canada Life. The term has become part of a broader lexicon of modern work, alongside quiet quitting, hustle culture and grindset and “taskmasking.”

Gần 40% người lao động Canada cho biết họ thường xuyên hoặc luôn cảm thấy kiệt sức, theo một khảo sát năm 2005 của tổ chức Nghiên cứu Sức khỏe Tâm thần Canada (Mental Health Research Canada) và hãng Canada Life. Thuật ngữ này đã trở thành một phần trong hệ từ vựng rộng lớn hơn về công việc hiện đại, bên cạnh các hiện tượng như nghỉ việc trong thầm lặng (quiet quitting) , văn hóa hối hả (hustle culture) , tư duy cày cuốc (grindset) và “ngụy trang nhiệm vụ” (taskmasking) .

But burnout is older than this current moment of concern suggests. The World Health Organization first classified it in 1990, in the International Classification of Diseases, defining it as “a state of vital exhaustion.”

Nhưng tình trạng kiệt quệ còn có lịch sử lâu đời hơn những gì mối lo ngại hiện tại gợi ý. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) lần đầu tiên phân loại tình trạng này vào năm 1990, trong Bảng Phân loại Quốc tế về Bệnh tật (International Classification of Diseases) , định nghĩa đây là “một trạng thái suy kiệt sinh lực”.

The WHO later redefined the term as a syndrome “resulting from chronic workplace stress that has not been successfully managed” characterized by feelings of exhaustion, detachment and a lack of accomplishment.

WHO sau đó đã định nghĩa lại thuật ngữ này như một hội chứng “bắt nguồn từ căng thẳng mãn tính tại nơi làm việc chưa được quản lý thành công”, được đặc trưng bởi cảm giác kiệt sức, sự thờ ơ tách biệt và cảm giác thiếu thành tựu.

The Oxford English Dictionary dates the word itself to 1937, but the term is even older than that. More than 200 years ago, agriculturalists and workers used the phrase “burnt out” to describe fertilizer kilns, fuel, matches, fires and the consequences of excessive work.

Từ điển tiếng Anh Oxford ghi nhận từ này xuất hiện từ năm 1937, nhưng thuật ngữ này thậm chí còn có từ trước đó nữa. Hơn 200 năm trước, các nhà nông học và người lao động đã sử dụng cụm từ “burnt out” (kiệt quệ / cháy trụi) để mô tả các lò nung phân bón, nhiên liệu, diêm, các đám cháy và hậu quả của việc làm việc quá sức.

The phrase ‘burnt out’ is centuries old

Cụm từ ‘burnt out’ đã có từ nhiều thế kỷ trước

Writing in his 1771 travelogue The Farmer’s Tour Through the East of England, agriculturalist Arthur Young documented farmers pushed to physical and emotional collapse by relentless work. For instance, he tells the story of a sub-tenant farmer, William White.

Trong cuốn nhật ký du hành viết năm 1771 mang tên *The Farmer’s Tour Through the East of England* (Chuyến tham quan miền Đông nước Anh của người nông dân) , nhà nông học Arthur Young đã ghi lại cảnh những người nông dân bị đẩy đến bờ vực suy sụp thể xác và tinh thần bởi công việc lao lực không ngừng nghỉ. Chẳng hạn, ông kể câu chuyện về một nông dân thuê lại đất, William White.

White worked hard to master new techniques of irrigation and climbed from “a day labourer to a little farmer” despite having been “twice burnt out, by which accident he lost a hundred pounds, notwithstanding the uncommon industry of repairing his buildings with his own hands.”

White đã làm việc cực nhọc để làm chủ các kỹ thuật tưới tiêu mới và vươn lên từ “một lao động làm thuê theo ngày thành một nông dân nhỏ” mặc dù đã “hai lần bị cháy trụi tài sản [burnt out], qua tai nạn đó anh đã mất một trăm bảng Anh, bất chấp sự siêng năng phi thường trong việc tự tay sửa chữa các tòa nhà của mình.”

In other words, White’s barn burned down twice. He couldn’t stop farming while rebuilding it, which meant he was working much harder than before, to the point where he lost 100 pounds. In Young’s account, “burnt out” joins material destruction with “vital exhaustion,” and “uncommon industry” with accomplishment.

Nói cách khác, trang trại của White đã cháy rụi hai lần. Anh không thể ngừng làm việc đồng áng trong lúc xây dựng lại nó, điều đó có nghĩa là anh phải làm việc vất vả hơn nhiều so với trước đây, đến mức giảm sút tới 100 pound [khoảng 45 kg]. Trong lời kể của Young, cụm từ “burnt out” kết hợp sự tàn phá về vật chất với “sự suy kiệt sinh lực”, và sự “siêng năng phi thường” với thành tựu.

Figure
A detail from John Slezer’s 1693 ‘Prospect of Dunfermline’ shows the Scottish countryside a century before Arthur Young documented English farm labourers describing similar exhaustion. (Wikimedia Commons)
Một chi tiết trong tác phẩm ‘Prospect of Dunfermline’ năm 1693 của John Slezer cho thấy vùng nông thôn Scotland một thế kỷ trước khi Arthur Young ghi lại cảnh những lao động nông nghiệp Anh mô tả tình trạng kiệt sức tương tự. (Wikimedia Commons)

Here, burnout has both a material and a social basis — material because a barn burning down necessitates extra work, and social because workers were expected, if not compelled, to do extra work and were supposedly rewarded for it with status and stories.

Ở đây, tình trạng kiệt quệ có cả cơ sở vật chất lẫn cơ sở xã hội — vật chất bởi vì một trang trại bị cháy đòi hỏi phải làm thêm việc, và xã hội bởi vì người lao động bị kỳ vọng, nếu không muốn nói là bị ép buộc, phải làm thêm việc và được cho là sẽ được đền đáp bằng địa vị và những câu chuyện ca ngợi.

From literal to figurative

Từ nghĩa đen sang nghĩa bóng

Burnout’s meaning shifted from literal to figurative over time. It began as a description of candles burning out or fuel being used up, then shifted to a barn burning down and a worker’s energy or body being depleted in the rebuilding. Eventually it came to simply describe a worker’s exhaustion.

Ý nghĩa của từ kiệt quệ (burnout) đã chuyển từ nghĩa đen sang nghĩa bóng theo thời gian. Nó bắt đầu như một sự miêu tả những ngọn nến cháy hết hoặc nhiên liệu cạn kiệt, sau đó chuyển thành một trang trại bị cháy rụi và năng lượng hay cơ thể của người lao động bị vắt kiệt trong quá trình xây dựng lại. Cuối cùng, nó trở thành một từ đơn giản dùng để miêu tả sự kiệt sức của người lao động.

This change makes an analogy or even an identity between objects and workers. This change is figurative because this kind of identity is a metaphor: “Workers are fuel.”

Sự thay đổi này tạo ra một sự tương đương hoặc thậm chí là sự đồng nhất giữa các vật thể và người lao động. Sự thay đổi này mang tính hình tượng bởi vì kiểu đồng nhất này là một phép ẩn dụ: “Người lao động là nhiên liệu.”

We typically associate metaphor with imagination or rhetorical flourish. But philosophers George Lakoff and Mark Johnson argue that “most of our ordinary conceptual system is metaphorical.” Metaphorical concepts structure “what we perceive, how we get around in the world, and how we relate to other people.” Because we rely on them for everyday activities, they aren’t necessarily obvious.

Chúng ta thường gắn ẩn dụ với trí tưởng tượng hoặc sự tô vẽ tu từ. Nhưng các nhà triết học George Lakoff và Mark Johnson lập luận rằng “hầu hết hệ thống khái niệm thông thường của chúng ta mang tính ẩn dụ”. Các khái niệm ẩn dụ cấu trúc hóa “những gì chúng ta nhận thức, cách chúng ta xoay sở trong thế giới, và cách chúng ta đối xử với những người khác.” Bởi vì chúng ta dựa vào chúng cho các hoạt động hàng ngày, nên chúng không nhất thiết phải quá lộ liễu.

In “burnout,” the metaphorical concept within the term is something like “workers are fuel.” This metaphor suggests that what’s true about fuel is true about workers. Both can be extracted, bought and sold, and used to power machinery. Using more of them produces more power or commodities.

Trong từ “burnout” (kiệt quệ) , khái niệm ẩn dụ ẩn giấu bên trong thuật ngữ này đại loại là “người lao động là nhiên liệu”. Phép ẩn dụ này gợi ý rằng những điều đúng với nhiên liệu thì cũng đúng với người lao động. Cả hai đều có thể bị khai thác, mua bán và sử dụng để cung cấp năng lượng cho máy móc. Sử dụng nhiều hơn sẽ tạo ra nhiều năng lượng hoặc hàng hóa hơn.

Burnout referred, and still refers, to people’s response to certain conditions, not just to personal choice or poor stress management. It was, and still is, the consequence of a social structure that normalizes and compels excessive work.

Burnout đã và vẫn đang đề cập đến phản ứng của con người trước những điều kiện nhất định, chứ không chỉ là lựa chọn cá nhân hay việc quản lý căng thẳng kém. Nó đã và vẫn là hậu quả của một cấu trúc xã hội bình thường hóa và ép buộc làm việc quá sức.

‘Moonlighting’ followed the same pattern

‘Làm thêm việc ngoài giờ’ (Moonlighting) cũng tuân theo mô hình tương tự

The material and social bases of burnout have been generalized over time. It soon became normalized that workers always work extra, regardless of cause or result.

Cơ sở vật chất và xã hội của tình trạng kiệt quệ đã được khái quát hóa theo thời gian. Chẳng bao lâu sau, việc người lao động luôn làm việc quá giờ trở thành điều bình thường, bất kể nguyên nhân hay kết quả là gì.

Consider the term “moonlight,” meaning “to do paid work in addition to one’s regular employment; to take on a subsidiary job in order to supplement one’s income.” This term may date to same period as burnout, much earlier than the Oxford English Dictionary’s first attestation in 1957.

Hãy xem xét thuật ngữ “moonlight” (làm việc ban đêm / làm thêm ngoài giờ) , có nghĩa là “làm công việc được trả lương ngoài công việc thường xuyên của một người; nhận thêm một công việc phụ để bổ sung thu nhập.” Thuật ngữ này có thể có từ cùng thời kỳ với burnout, sớm hơn rất nhiều so với lần đầu tiên được ghi nhận trong Từ điển tiếng Anh Oxford vào năm 1957.

In A Six Months’ Tour through the North of England (1770) , Young writes of a coal miner and farmer named James Croft, “a genius of peculiar cast” he praises for receiving no “assistance either of money or labour” nor skimping on his work in the mine to work on his farm. Croft worked tirelessly:

Trong cuốn *A Six Months’ Tour through the North of England* (Chuyến du hành sáu tháng qua miền Bắc nước Anh) (1770) , Young viết về một thợ mỏ than kiêm nông dân tên là James Croft, “một thiên tài có cá tính đặc biệt” mà ông ca ngợi vì không nhận bất kỳ “sự hỗ trợ nào dù là tiền bạc hay lao động” cũng như không xao lãng công việc trong mỏ để làm việc ở trang trại. Croft làm việc không mệt mỏi:

“Since his beginning he has never had more than four hours sleep, and, of moon–light or bright star–light nights, seldom so much. The regular severe fatigue of the colliery has not been sufficient to bow down the spirit of this poor fellow; — he applies the remainder of the day, and even steals from the night, to prosecute his favourite works of husbandry — that is, to make up his hours of work twenty, out of the twenty–four.”
“Kể từ khi bắt đầu, anh chưa từng ngủ quá bốn tiếng, và vào những đêm trăng sáng hoặc sao sáng rực rỡ, hiếm khi nào được ngủ nhiều đến thế. Sự mệt mỏi khắc nghiệt đều đặn của hầm mỏ vẫn chưa đủ để khuất phục tinh thần của anh chàng tội nghiệp này; — anh tận dụng khoảng thời gian còn lại trong ngày, và thậm chí đánh cắp cả thời gian ban đêm, để theo đuổi những công việc đồng áng yêu thích — nghĩa là, kéo dài thời gian làm việc của mình thành hai mươi tiếng trong tổng số hai mươi tư tiếng một ngày.”
Figure
Coal mining remained physically punishing work well into the 19th century, as shown in this 1871 illustration of pitmen hewing coal. (Wikimedia Commons)
Khai thác than vẫn là một công việc vắt kiệt sức lực thể xác cho đến tận thế kỷ 19, như được minh họa trong bức tranh khắc họa những thợ mỏ đang đục than năm 1871 này. (Wikimedia Commons)

Young figures Croft was working 12 hours at night in the mine and then at least eight hours more on his farm. He adds that Croft had “inward complaints, that are, in all probability, the consequence of repeated strains.”

Young tính toán rằng Croft đã làm việc 12 tiếng vào ban đêm trong mỏ và sau đó ít nhất 8 tiếng nữa ở trang trại của mình. Ông nói thêm rằng Croft mắc “những chứng bệnh bên trong, mà rất có thể, là hậu quả của những lần căng cơ lặp đi lặp lại.”

Writing like Young’s is often cited by historians for its statistics and stories, but these aren’t value–neutral. They were intended to advance the transition to capitalism, in part by using characters like Croft and White as models to encourage complaint–free, excessive work.

Những bài viết như của Young thường được các nhà sử học trích dẫn vì các số liệu thống kê và câu chuyện của chúng, nhưng chúng không hề trung lập về mặt giá trị. Chúng nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang chủ nghĩa tư bản, một phần bằng cách sử dụng các nhân vật như Croft và White làm hình mẫu để khuyến khích việc làm việc quá sức mà không có lời phàn nàn nào.

The period’s georgic and pastoral writing accomplished much the same task, often by obscuring or redefining agricultural labour.

Các sáng tác thơ ca điền viên và mục đồng thời kỳ đó cũng đạt được mục đích tương tự, thường bằng cách che giấu hoặc định nghĩa lại lao động nông nghiệp.

Burnout is a structural problem

Kiệt quệ là một vấn đề mang tính cấu trúc

In my forthcoming book, Whistling at the Plough: Poetic Infrastructure from Improvement to Romanticism, I argue that we need critical histories that examine how concepts like burnout have built our world.

Trong cuốn sách sắp xuất bản của tôi, *Whistling at the Plough: Poetic Infrastructure from Improvement to Romanticism* (Tiếng huýt sáo sau luống cày: Hạ tầng thi ca từ thời kỳ Cải tiến đến Chủ nghĩa Lãng mạn) , tôi lập luận rằng chúng ta cần có những lịch sử mang tính phản biện để xem xét các khái niệm như kiệt quệ đã xây dựng thế giới của chúng ta như thế nào.

Poor wages compelled Croft to “moon–light” on his farm so he could produce enough food for his family, and fires compelled White to “burn out” by rebuilding his barn twice while operating his farm. This history casts burnout in a new light.

Tiền lương chết đói đã buộc Croft phải “làm thêm ban đêm” trên trang trại của mình để có đủ lương thực cho gia đình, và những đám cháy đã buộc White phải “kiệt quệ” bằng cách xây dựng lại trang trại hai lần trong khi vẫn vận hành nó. Lịch sử này mang lại một lăng kính hoàn toàn mới về tình trạng kiệt quệ.

Today’s version of burnout is often framed as an individual mental or emotional state to be managed with therapy, time off or better coping strategies. But the personal mental or emotional nature of today’s concept belies its social, material basis. This structure hasn’t changed since the 18th century. Burnout is built into capitalism, not a problem capitalism is motivated to solve.

Tình trạng kiệt quệ ngày nay thường được đóng khung như một trạng thái tinh thần hoặc cảm xúc cá nhân cần được xử lý bằng trị liệu, thời gian nghỉ ngơi hoặc các chiến lược đối phó tốt hơn. Nhưng bản chất tinh thần hoặc cảm xúc mang tính cá nhân của khái niệm ngày nay lại mâu thuẫn với cơ sở xã hội và vật chất của nó. Cấu trúc này không có gì thay đổi kể từ thế kỷ 18. Kiệt quệ là một phần được thiết kế sẵn trong chủ nghĩa tư bản, chứ không phải là một vấn đề mà chủ nghĩa tư bản có động lực để giải quyết.

Yet for those 40 per cent of Canadian workers who feel burnt out often or always, a temporary solution might be structural rather than personal; a seaside retreat, like the Victorians prescribed for “overwork,” perhaps, or a four–day work week, which has shown promise in Australia.

Tuy nhiên, đối với 40% người lao động Canada cảm thấy kiệt quệ thường xuyên hoặc luôn luôn, một giải pháp tạm thời có thể mang tính cấu trúc thay vì mang tính cá nhân; chẳng hạn như một chuyến nghỉ dưỡng bên bờ biển, giống như cách người thời Victoria kê đơn cho chứng “làm việc quá sức”, hoặc tuần làm việc bốn ngày, thứ đã cho thấy những tín hiệu khả quan ở Úc.

Nathan TeBokkel receives funding from the Social Sciences and Humanities Research Council of Canada through a Banting Postdoctoral Fellowship. He is a member of the Ontario Beekeepers’ Association, Middlesex Oxford Elgin Beekeepers’ Association, and the Ontario Fruit and Vegetable Growers’ Association, and head beekeeper and food safety coordinator at Thames River Melons, Ltd.

Nathan TeBokkel nhận được tài trợ từ Hội đồng Nghiên cứu Khoa học Xã hội và Nhân văn Canada thông qua Học bổng Sau Tiến sĩ Banting. Ông là thành viên của Hiệp hội Người nuôi ong Ontario, Hiệp hội Người nuôi ong Middlesex Oxford Elgin, và Hiệp hội Người trồng Trái cây và Rau quả Ontario, đồng thời là trưởng nhóm nuôi ong và điều phối viên an toàn thực phẩm tại Thames River Melons, Ltd.