Tại sao mọi người lại kết hôn vào thời điểm này?

Why do people get married these days?

Tại sao mọi người lại kết hôn vào thời điểm này?
Devorah Baum, Professor of English Literature and Critical Theory, University of Southampton
Show
Hide
EN – VI
VI – EN
3000-5000 ▼
0-3000
3000-5000
5000-7000
7000-10000

The story of marriage’s declining fortunes has been gathering momentum for a while now. Divorce is commonplace, romcoms keep disappointing, and according to the 2021 census, the majority of adults in the UK are choosing, for the first time since records began, not to get married at all.

Câu chuyện về sự suy giảm của hôn nhân đã âm ỉ diễn ra một thời gian nay. Ly hôn trở thành chuyện phổ biến, các bộ phim hài lãng mạn tiếp tục gây thất vọng, và theo cuộc tổng điều tra năm 2021, lần đầu tiên kể từ khi bắt đầu ghi chép, đa số người trưởng thành ở Anh đang chọn không kết hôn.

Having rejected an institution that has been a bastion of privilege for some, and a source of inequality and injustice for others, lots of people are experimenting with alternatives to the norms and expectations of matrimony, monogamy and family.

Sau khi từ chối một thể chế từng là thành trì đặc quyền của một số người, đồng thời là nguồn cơn của sự bất bình đẳng và bất công đối với những người khác, rất nhiều người đang thử nghiệm các giải pháp thay thế cho các chuẩn mực và kỳ vọng của chế độ hôn nhân một vợ một chồng và gia đình.

The real question, then, isn’t why so many people aren’t marrying – although there has a been a lot of hand–wringing over the fallout from women’s financial independence and changing practices around cohabitation and child rearing.

Do đó, câu hỏi thực sự không phải là tại sao rất nhiều người không kết hôn – mặc dù đã có rất nhiều sự lo lắng xoay quanh hệ lụy từ sự độc lập tài chính của phụ nữ và các tập tục đang thay đổi xung quanh việc sống thử cũng như nuôi dạy con cái.

But it’s more interesting to consider why lots of other people – including liberal, secular, queer and divorced people – are still choosing to get married. What explains this ongoing attachment to the world’s oldest framework for union?

Nhưng sẽ thú vị hơn nếu xem xét tại sao rất nhiều người khác – bao gồm cả những người theo chủ nghĩa tự do, thế tục, đồng tính và đã ly hôn – vẫn chọn kết hôn. Điều gì giải thích sự gắn bó lâu dài này với khuôn khổ liên minh lâu đời nhất thế giới?

Puzzling over this while researching my book On Marriage, I asked a bunch of spouses what had motivated them to tie their knots. Bizarrely for such a consequential decision, most appeared genuinely flummoxed by my question, offering me hunches rather than answers. Erm, security? Children? Taxes? Stability? Peer pressure? Love?

Khi trăn trở về điều này trong quá trình nghiên cứu cuốn sách On Marriage (Về hôn nhân) của mình, tôi đã hỏi một loạt các cặp vợ chồng về động lực khiến họ tiến tới hôn nhân. Thật kỳ lạ đối với một quyết định có trọng lượng như vậy, hầu hết dường như thực sự bối rối trước câu hỏi của tôi, đưa ra những phỏng đoán thay vì câu trả lời. Ờ thì, sự an toàn? Con cái? Thuế? Sự ổn định? Áp lực từ bạn bè? Tình yêu?

Those who had long maintained a critical stance towards an institution they viewed as intrinsically patriarchal, yet had still wound up inside it, tended to offer me excuses. They did it for their parents, work, visas, kids, money, convenience. Who doesn’t want an excuse for a big party?

Những người từ lâu vẫn giữ thái độ chỉ trích đối với một thể chế mà họ cho là mang bản chất gia trưởng, nhưng cuối cùng vẫn bước chân vào đó, thường đưa ra cho tôi những lý do ngụy biện. Họ làm điều đó vì cha mẹ, công việc, thị thực, con cái, tiền bạc, sự tiện lợi. Ai mà lại không muốn có cớ để tổ chức một bữa tiệc lớn cơ chứ?

Marriage turned out to be a weird topic of conversation. On the one hand, it was a theme so hackneyed as to provoke eyerolls and yawns. On the other, its mere mention appeared to be triggering.

Hôn nhân hóa ra lại là một chủ đề trò chuyện kỳ quặc. Một mặt, đó là một chủ đề quá sáo rỗng đến mức khiến người ta đảo mắt và ngáp ngắn ngáp dài. Mặt khác, việc chỉ nhắc đến nó thôi dường như cũng đủ gây ra phản ứng mạnh mẽ.

While everybody implied they knew what they thought about it, most sounded like they hadn’t really thought about it. Many who had committed themselves to marriage appeared to have wandered into their married lives more or less absent-mindedly.

Mặc dù ai cũng ngầm tỏ ra là mình hiểu rõ suy nghĩ của bản thân về vấn đề đó, nhưng phần lớn lại nghe giống như thể họ chưa từng thực sự suy nghĩ về nó. Nhiều người đã cam kết gắn bó với hôn nhân dường như bước vào đời sống hôn nhân một cách khá lơ đễnh.

Perhaps there’s no other way. Marriage, after all, is an extraordinary proposal: a commitment, made before witnesses, to stick with somebody until death. Who fully comprehends such an act in advance?

Có lẽ không còn cách nào khác. Xét cho cùng, hôn nhân là một lời cầu hôn phi thường: một cam kết, được đưa ra trước các nhân chứng, để gắn bó với ai đó cho đến cuối đời. Mấy ai thấu hiểu trọn vẹn một hành động như vậy trước khi bước vào?

It’s especially strange in a predominantly secular society. Until the late 20th century, marriage in the UK was mostly undertaken to fulfil a sacred covenant, receive God’s blessing, and reflect a divine relationship.

Nó đặc biệt kỳ lạ trong một xã hội phần lớn mang tính thế tục. Cho đến cuối thế kỷ 20, hôn nhân ở Anh chủ yếu được tiến hành để hoàn thành một giao ước thiêng liêng, nhận sự ban phước của Chúa và phản ánh mối quan hệ thần thánh.

But in 1992, civil ceremonies overtook religious ones. Today in the UK, six in ten people aged 16 to 34 identify with no religion, according to the latest British Social Attitudes survey. Yet religion doesn’t seem to have been entirely withdrawn from the institution either.

Nhưng vào năm 1992, các nghi lễ dân sự đã vượt qua các nghi lễ tôn giáo. Ngày nay tại Anh, cứ 10 người trong độ tuổi từ 16 đến 34 thì có 6 người không theo tôn giáo nào, theo khảo sát mới nhất về Thái độ Xã hội Anh. Tuy nhiên, tôn giáo dường như cũng chưa hoàn toàn bị loại bỏ khỏi thể chế này.

I was once granted a licence in the US state of Massachusetts to become a “one–day solemniser”. I temporarily had the power to officiate at the wedding of two people, neither of whom wanted a religious ceremony. “Solemnising” – meaning to perform or celebrate an official ceremony – seemed a suitably neutral word.

Tôi từng được cấp phép tại bang Massachusetts của Mỹ để trở thành một “người chủ trì hôn lễ trong một ngày.” Tôi tạm thời có quyền cử hành đám cưới cho hai người, mà cả hai đều không muốn có một nghi lễ tôn giáo. Từ “chủ trì” – có nghĩa là thực hiện hoặc cử hành một nghi lễ chính thức – có vẻ là một từ trung lập thích hợp.

Figure
Weddings are less religious, but the way people talk about marriage still maintains an air of religion. Paper Trident/ Shuttertsock
Đám cưới ngày nay ít mang tính tôn giáo hơn, nhưng cách mọi người nói về hôn nhân vẫn mang bầu không khí tôn giáo. Paper Trident/Shutterstock

However, the ceremony did not feel altogether unreligious – perhaps because marriage is a place where modern secular culture has quietly absorbed many of the dreams and values we associate with religion.

Tuy nhiên, buổi lễ không mang lại cảm giác hoàn toàn phi tôn giáo – có lẽ bởi vì hôn nhân là nơi văn hóa thế tục hiện đại đã âm thầm tiếp thu nhiều ước mơ và giá trị mà chúng ta thường liên tưởng đến tôn giáo.

Cultural anthropologist Ernest Becker wrote in The Denial of Death that without God, many seek meaning, salvation and sanctuary in romance. So you might say we can see this in the language around marriage. Oaths become “vows”, faith becomes “fidelity”, eternity becomes “forever”. The afterlife becomes the “happy ever after”.

Nhà nhân học văn hóa Ernest Becker đã viết trong tác phẩm The Denial of Death (Sự chối bỏ cái chết) rằng khi không có Chúa, nhiều người tìm kiếm ý nghĩa, sự cứu rỗi và chốn nương thân trong sự lãng mạn. Vì vậy, bạn có thể nói rằng chúng ta có thể thấy điều này qua ngôn ngữ xung quanh hôn nhân. Lời thề trở thành “lời nguyền ước”, niềm tin trở thành “sự chung thủy”, sự vĩnh cửu trở thành “mãi mãi.” Kiếp sau trở thành “hạnh phúc mãi mãi về sau.”

Indeed, facing the perilous future that lies before us today, it’s little wonder if people cling to an institution promising love, commitment and salvation for the long term – even if they’ve no particular interest in what marriage meant to their grandparents.

Thật vậy, đối mặt với tương lai đầy hiểm họa trước mắt chúng ta ngày nay, không có gì lạ nếu mọi người bám víu vào một thể chế hứa hẹn tình yêu, sự cam kết và sự cứu rỗi lâu dài – ngay cả khi họ không có chút quan tâm đặc biệt nào đến ý nghĩa của hôn nhân đối với ông bà họ.

This article features references to books that have been included for editorial reasons, and may contain links to bookshop.org. If you click on one of the links and go on to buy something, The Conversation UK may earn a commission.

Bài viết này có đề cập đến các cuốn sách đã được đưa vào vì lý do biên tập và có thể chứa các liên kết đến bookshop.org. Nếu bạn nhấp vào một trong các liên kết và tiếp tục mua sắm, The Conversation UK có thể nhận được hoa hồng.

Devorah Baum does not work for, consult, own shares in or receive funding from any company or organisation that would benefit from this article, and has disclosed no relevant affiliations beyond their academic appointment.

Devorah Baum không làm việc cho, tư vấn, sở hữu cổ phần hoặc nhận tài trợ từ bất kỳ công ty hay tổ chức nào có thể hưởng lợi từ bài viết này, và chưa tiết lộ bất kỳ mối liên hệ nào có liên quan ngoài chức danh học thuật của cô ấy.