Tại sao quan niệm về “người lao động lý tưởng” lại có thể gây hại đến vậy đối với những người gặp vấn đề về sức khỏe tâm thần

Why the idea of an ‘ideal worker’ can be so harmful for people with mental health conditions

Tại sao quan niệm về “người lao động lý tưởng” lại có thể gây hại đến vậy đối với những người gặp vấn đề về sức khỏe tâm thần
Hadar Elraz, Senior Lecturer in Human Resource Management and Organisational Behaviour, Swansea University Jen Remnant, Chancellor's Fellow Work, Employment and Organisation, Strathclyde Business School, University of Strathclyde
Show
Hide
EN – VI
VI – EN
3000-5000 ▼
0-3000
3000-5000
5000-7000
7000-10000

In the modern world of work, the “ideal worker” is a dominant yet dangerous concept that can dictate workplace norms and expectations. This archetype describes an employee who is boundlessly productive, constantly available and emotionally stable at all times.

Trong thế giới lao động hiện đại, “người lao động lý tưởng” là một khái niệm tuy thống trị nhưng lại vô cùng nguy hiểm, có thể chi phối các chuẩn mực và kỳ vọng tại nơi làm việc. Hình mẫu này mô tả một nhân viên có năng suất không giới hạn, luôn sẵn sàng làm việc và ổn định cảm xúc mọi lúc.

What makes this trope so flawed is that it assumes workers have no caring responsibilities outside work, or have unrealistic physical and psychological capabilities. It’s intended to drive efficiency, but in fact it is a standard that very few people can reach. It marginalises people who deviate from these rigid standards, including workers managing mental health conditions.

Điểm sai lầm lớn nhất của hình mẫu này là nó mặc định rằng người lao động không có trách nhiệm chăm sóc gia đình ngoài công việc, hoặc có năng lực thể chất và tâm lý phi thực tế. Nó ra đời nhằm thúc đẩy hiệu suất, nhưng trên thực tế lại là một tiêu chuẩn mà rất ít người có thể đạt được. Nó gạt ra lề những người đi lệch khỏi các tiêu chuẩn cứng nhắc này, bao gồm cả những lao động đang phải đối mặt với các vấn đề về sức khỏe tâm thần.

We are researchers in management and health, and our recent paper found that this “ideal worker” is a means of creating stigma. This stigma is embedded in processes and policies, creating a yardstick against which all employees are measured.

Chúng tôi là các nhà nghiên cứu về quản trị và y tế, và bài viết gần đây của chúng tôi phát hiện ra rằng “người lao động lý tưởng” này là một phương tiện tạo ra kỳ thị. Sự kỳ thị này được nhúng sâu vào các quy trình và chính sách, tạo ra một thước đo để đánh giá tất cả nhân viên.

The study is based on in–depth interviews with a diverse group of employees with mental health conditions (including depression, bipolar disorder, anxiety and OCD) . They worked across the private, public and third sectors in various jobs, including accounting, engineering, teaching and senior management.

Nghiên cứu dựa trên các cuộc phỏng vấn chiều sâu với một nhóm nhân viên đa dạng đang gặp các vấn đề về sức khỏe tâm thần (bao gồm trầm cảm, rối loạn lưỡng cực, lo âu và rối loạn ám ảnh cưỡng chế- OCD) . Họ làm việc trong nhiều lĩnh vực khác nhau như tư nhân, công lập và khu vực thứ ba, với nhiều công việc đa dạng bao gồm kế toán, kỹ thuật, giảng dạy và quản lý cấp cao.

For workers with mental health conditions, the expectation of emotional steadiness creates a conflict with the often fluctuating nature of their conditions.

Đối với những người lao động gặp vấn đề về sức khỏe tâm thần, kỳ vọng về sự ổn định cảm xúc tạo ra sự xung đột với bản chất vốn hay biến động của tình trạng bệnh mà họ gặp phải.

When organisations are seen to value the ideal worker archetype, they can end up creating barriers to meaningful inclusion. In our paper we understand these as both “barriers to doing” and “barriers to being”.

Khi các tổ chức bị nhìn nhận là đề cao hình mẫu người lao động lý tưởng, họ có thể vô tình tạo ra các rào cản đối với sự hòa nhập thực chất. Trong bài viết của mình, chúng tôi hiểu những điều này vừa là “rào cản để hành động” vừa là “rào cản để hiện hữu”.

What this means is that workplaces end up with rigid workloads and inflexible expectations (“barriers to doing”) . As such, they fail to accommodate people with invisible or fluctuating symptoms. They can also undermine a worker’s identity and self–worth (“barriers to being”) , framing them as unreliable or incompetent simply because they do not meet the standards of the ideal worker.

Điều này có nghĩa là nơi làm việc sẽ áp dụng khối lượng công việc cứng nhắc và những kỳ vọng thiếu linh hoạt (“rào cản để hành động”) . Do đó, họ không thể hỗ trợ những người có các triệu chứng vô hình hoặc dễ biến động. Họ cũng có thể làm suy giảm bản dạng và giá trị bản thân của người lao động (“rào cản để hiện hữu”) , quy chụp họ là người không đáng tin cậy hoặc kém năng lực chỉ vì họ không đạt được các tiêu chuẩn của người lao động lý tưởng.

Because employees with mental health conditions often fear being perceived as weak, a burden or fragile, they frequently work excessively hard to prove their value. This means that these employees might compromise their resting and unwinding time in order to live up to workplace expectations.

Vì những nhân viên gặp vấn đề về sức khỏe tâm thần thường sợ bị coi là yếu đuối, là gánh nặng hoặc dễ vỡ, họ thường làm việc quá sức để chứng minh giá trị của mình. Điều này có nghĩa là những nhân viên này có thể đánh đổi thời gian nghỉ ngơi và thư giãn để đáp ứng các kỳ vọng tại nơi làm việc.

But of course, these efforts create strain at the personal level. These workers can end up putting themselves at greater risk of relapse or ill health. Our research found that overworking to mask mental health symptoms (working unpaid hours to make up for times when they are unwell, for example) can suggest an organisational culture that may not be inclusive enough.

Nhưng tất nhiên, những nỗ lực này gây ra áp lực ở cấp độ cá nhân. Những người lao động này có thể tự đẩy bản thân vào nguy cơ tái phát bệnh hoặc suy giảm sức khỏe cao hơn. Nghiên cứu của chúng tôi phát hiện ra rằng việc làm việc quá sức để che giấu các triệu chứng sức khỏe tâm thần (chẳng hạn như làm bù ngoài giờ không lương để bù đắp cho những lúc họ ốm đau) có thể cho thấy một văn hóa tổ chức chưa đủ tính hòa nhập.

What’s really happening

Điều gì thực sự đang diễn ra

HR practices may assume that mental health conditions should be managed by employees alone, rather than with support from the organisation. At the same time, this constant pressure to over–perform can exacerbate mental health conditions, leading to a vicious cycle of stress, exhaustion and even more stigma.

Các thực hành nhân sự có thể mặc định rằng các vấn đề sức khỏe tâm thần nên được tự quản lý bởi nhân viên, thay vì nhận được sự hỗ trợ từ tổ chức. Đồng thời, áp lực liên tục phải đạt hiệu suất cao này có thể làm trầm trọng thêm các vấn đề sức khỏe tâm thần, dẫn đến một vòng luẩn quẩn của sự căng thẳng, kiệt sức và thậm chí là sự kỳ thị lớn hơn.

The ideal worker norm forces many employees into keeping their mental health conditions to themselves. They may see hiding their struggles as a tactical way of protecting their professional identity.

Chuẩn mực về người lao động lý tưởng buộc nhiều nhân viên phải giữ kín các vấn đề sức khỏe tâm thần của họ. Họ có thể coi việc che giấu các cuộc đấu tranh nội tâm của mình là mộthướng đi mang tính chiến lược để bảo vệ danh tính nghề nghiệp.

In an environment that rewards constant productivity, disclosing a condition that might require reasonable adjustments could be seen as a professional risk. In other words, stigma may compromise career chances.

Trong một môi trường thưởng cho năng suất liên tục, việc công khai một tình trạng có thể đòi hỏi các sự điều chỉnh hợp lý có thể bị coi là một rủi ro nghề nghiệp. Nói cách khác, sự kỳ thị có thể làm tổn hại đến cơ hội thăng tiến sự nghiệp.

Participants in our research reported lying on health questionnaires or hiding symptoms because the climate in their workplace signalled that mental health conditions were poorly understood. But this secrecy creates a massive emotional burden, as workers felt pressure to constantly monitor their health, mask their condition and schedule medical appointments in secret.

Những người tham gia nghiên cứu của chúng tôi báo cáo rằng họ đã nói dối trong các bảng câu hỏi về sức khỏe hoặc che giấu các triệu chứng bởi vì bầu không khí tại nơi làm việc cho thấy các vấn đề sức khỏe tâm thần chưa được thấu hiểu đầy đủ. Nhưng sự che giấu này tạo ra một gánh nặng cảm xúc vô cùng lớn, khi người lao động cảm thấy áp lực phải liên tục theo dõi sức khỏe của mình, che giấu tình trạng bệnh và sắp xếp các cuộc hẹn y tế trong bí mật.

Paradoxically, while this approach allows people to remain employed, it reinforces the structures that demand their silence. And it ensures that workplace support remains invisible or inaccessible.

Trớ trêu thay, mặc dù cách tiếp cận này cho phép mọi người tiếp tục có việc làm, nhưng nó lại củng cố các cấu trúc đòi hỏi sự im lặng từ họ. Và nó đảm bảo rằng sự hỗ trợ tại nơi làm việc vẫn tiếp tục mang tính vô hình hoặc không thể tiếp cận được.

Figure
The research found that some workers put in extra unpaid hours to try to achieve ‘ideal’ levels of productivity. Gorodenkoff/Shutterstock
Nghiên cứu phát hiện ra rằng một số nhân viên làm thêm giờ không lương để cố gắng đạt được các mức năng suất ‘lý tưởng’. Gorodenkoff/Shutterstock

Our analysis showed a stark contrast between perceptions of support for people with physical impairments and that for employees with mental health conditions. While physical aids like ramps are often visible and accepted, workers setting out their mental health needs frequently faced the risk of stigma, ignorance or disbelief.

Phân tích của chúng tôi cho thấy sự tương phản rõ rệt giữa nhận thức về sự hỗ trợ dành cho những người khuyết tật thể chất và dành cho nhân viên gặp vấn đề về sức khỏe tâm thần. Trong khi các thiết bị hỗ trợ thể chất như lối đi cho xe lăn thường hiển hiện và được chấp nhận, thì những nhân viên nêu lên nhu cầu về sức khỏe tâm thần lại thường xuyên phải đối mặt với rủi ro bị kỳ thị, phớt lờ hoặc hoài nghi.

By holding on to the ideal worker archetype, organisations are not only failing to fulfil their duty of care. They may also be undermining their own long–term sustainability if they lose skilled labour. Then there are the costs of constant recruitment and retraining.

Bằng cách bám vào hình mẫu người lao động lý tưởng, các tổ chức không chỉ không thực hiện được nghĩa vụ chăm sóc của mình. Họ cũng có thể đang làm suy yếu tính bền vững lâu dài của chính mình nếu họ đánh mất nguồn lao động có tay nghề. Chưa kể đến chi phí cho việc tuyển dụng và đào tạo lại liên tục.

Managing stigma is a workplace burden that can lead to burnout or divert energy away from a worker’s core tasks. We suggest a fundamental shift for employers: moving away from chasing the “ideal worker” towards creating “ideal workplaces” instead. This means challenging the assumption that productivity must be uninterrupted and that emotional stability is a prerequisite for professional value.

Quản lý sự kỳ thị là một gánh nặng tại nơi làm việc có thể dẫn đến kiệt sức hoặc làm phân tán năng lượng khỏi các nhiệm vụ cốt lõi của người lao động. Chúng tôi đề xuất một sự thay đổi căn bản đối với người sử dụng lao động: chuyển từ việc theo đuổi “người lao động lý tưởng” sang việc kiến tạo “nơi làm việc lý tưởng”. Điều này có nghĩa là thách thức giả định cho rằng năng suất phải không bị gián đoạn và sự ổn định cảm xúc là điều kiện tiên quyết cho giá trị nghề nghiệp.

It also means focusing on the quality of an employee’s contribution rather than judging their constant availability or productivity. And it means designing work environments from the ground up to support diverse needs, so that mental health conditions are normalised. This would reduce the need for employees to keep conditions secret.

Điều đó cũng có nghĩa là tập trung vào chất lượng đóng góp của nhân viên thay vì phán xét sự sẵn sàng hay năng suất liên tục của họ. Và điều này có nghĩa là thiết kế các môi trường làm việc từ gốc rễ để hỗ trợ các nhu cầu đa dạng, sao cho các vấn đề sức khỏe tâm thần được bình thường hóa. Điều này sẽ làm giảm nhu cầu phải giữ bí mật tình trạng bệnh của nhân viên.

Ultimately, the problem with the ideal worker archetype is that it is a persistent myth that ignores the reality of human diversity. True equity requires organisations to stop trying to shape individuals to fit the mould and instead rethink work norms to support all employees so that everyone can play a part in enhancing the business.

Cuối cùng, vấn đề với hình mẫu người lao động lý tưởng là nó là một thứ huyền thoại dai dẳng phớt lờ thực tế về sự đa dạng của con người. Sự công bằng thực sự đòi hỏi các tổ chức phải ngừng việc cố gắng nhào nặn các cá nhân để vừa vặn với chiếc khuôn có sẵn, thay vào đó là suy nghĩ lại các chuẩn mực công việc để hỗ trợ tất cả nhân viên nhằm đảm bảo mọi người đều có thể đóng góp một phần vào việc phát triển doanh nghiệp.

Hadar Elraz disclosed this study was supported by the UK Economic and Social Research Council. She disclosed no relevant affiliations beyond their academic appointment.

Hadar Elraz tiết lộ rằng nghiên cứu này được hỗ trợ bởi Hội đồng Nghiên cứu Kinh tế và Xã hội Vương quốc Anh. Cô không tiết lộ mối liên hệ quan trọng nào ngoài chức vụ học thuật của mình.

Jen Remnant does not work for, consult, own shares in or receive funding from any company or organisation that would benefit from this article, and has disclosed no relevant affiliations beyond their academic appointment.

Jen Remnant không làm việc cho, tư vấn, sở hữu cổ phần hoặc nhận tài trợ từ bất kỳ công ty hay tổ chức nào có thể hưởng lợi từ bài viết này, và không tiết lộ bất kỳ mối liên hệ quan trọng nào ngoài chức vụ học thuật của cô ấy.