Phong trào quay lại văn phòng đã dạy chúng ta điều gì? Con người, chứ không phải công nghệ, mới giúp các công ty vươn lên dẫn đầu

What has the return-to-office movement taught us? People, not technology help companies get ahead

Phong trào quay lại văn phòng đã dạy chúng ta điều gì? Con người, chứ không phải công nghệ, mới giúp các công ty vươn lên dẫn đầu
Dr Dino Dogan, Strategic Management expert and former Dean of Luxembourg School of Business, European Academy of Management (EURAM)
Show
Hide
EN – VI
VI – EN
3000-5000 ▼
0-3000
3000-5000
5000-7000
7000-10000

We like to believe that whatever ails a company can be fixed by digitising it. And technology is easy to swap. Rip out the old system, bolt in the new one, declare yourself modern. But a company is not its buildings, its machines, or its software. It is the people in it. Organizations do not change. People change or they quietly refuse to, and no amount of technology overrides that.

Chúng ta thường thích tin rằng bất kỳ vấn đề gì của công ty cũng có thể được giải quyết bằng số hóa. Và công nghệ thì rất dễ thay thế. Tháo bỏ hệ thống cũ, lắp vào hệ thống mới và tự xưng là hiện đại. Nhưng một công ty không phải là những tòa nhà, máy móc hay phần mềm của nó. Mà đó chính là con người bên trong công ty. Các tổ chức không tự thay đổi. Con người mới là đối tượng thay đổi hoặc âm thầm từ chối thay đổi, và không có lượng công nghệ nào có thể vượt qua điều đó.

I learned this the hard way, leading corporate restructuring as a CFO and a CEO. You can redraw an org chart over lunch. Getting the human beings inside it to actually move forward is the real job, and there is no tool that will do it for you. The recent return–to–office wave is showing this right now, at enormous scale.

Tôi đã rút ra bài học này một cách đầy cay đắng khi lãnh đạo các đợt tái cơ cấu doanh nghiệp trên cương vị Giám đốc Tài chính (CFO) và Giám đốc Điều hành (CEO) . Bạn có thể vẽ lại sơ đồ tổ chức trong giờ ăn trưa. Nhưng việc khiến những con người bên trong đó thực sự tiến về phía trước mới là công việc thực sự, và không có công cụ nào có thể làm thay bạn điều đó. Làn sóng quay lại văn phòng gần đây đang chứng minh điều này ngay lúc này, với quy mô cực kỳ lớn.

Through 2025 and into 2026, the big employers ordered everyone back. Amazon, around 350,000 people, full–time. JPMorgan Chase, remote work gone. Dell, hybrid scrapped. Mass change programs, imposed from the top, and look what they produced. Corporate guidance firm Gartner found nearly three quarters of HR leaders reporting internal tension.

Trong suốt năm 2025 và bước sang năm 2026, các nhà tuyển dụng lớn đã yêu cầu mọi người quay trở lại làm việc trực tiếp. Amazon yêu cầu khoảng 350.000 nhân viên làm việc toàn thời gian tại văn phòng. JPMorgan Chase chấm dứt làm việc từ xa. Dell xóa bỏ hình thức làm việc kết hợp (hybrid) . Các chương trình thay đổi quy mô lớn được áp đặt từ cấp trên, và hãy xem kết quả chúng mang lại là gì. Công ty tư vấn doanh nghiệp Gartner phát hiện ra rằng gần 3/4 các nhà lãnh đạo nhân sự báo cáo về tình trạng căng thẳng nội bộ.

Eight in ten companies admitted losing talent. And the number that says it all: required office time went up 12 percent between 2024 and 2025, while actual attendance rose 1 to 3 percent. People badged in. They withheld everything else.

Tám trong số mười công ty thừa nhận đã mất đi nhân tài. Và con số nói lên tất cả: thời gian bắt buộc ở văn phòng đã tăng 12% từ năm 2024 đến năm 2025, trong khi tỷ lệ đi làm thực tế chỉ tăng từ 1 đến 3%. Nhân viên chỉ đến quẹt thẻ điểm danh. Họ giữ lại tất cả những thứ khác cho riêng mình.

That gap, between turning up and actually caring, is the whole subject of the “People” block in my book.

Khoảng cách đó, giữa việc xuất hiện và việc thực sự quan tâm, chính là toàn bộ chủ đề của khối “Con người” trong cuốn sách của tôi.

So let me say something unfashionable. Humans are creatures of habit. We claim to love change. We don’t. When it gets hard, most of us want stability and a predictable routine, and that includes your best employees.

Vì vậy, hãy cho phép tôi nói một điều có vẻ lỗi thời. Con người là sinh vật của thói quen. Chúng ta luôn khẳng định mình yêu thích sự thay đổi. Nhưng thực ra không phải vậy. Khi mọi thứ trở nên khó khăn, phần lớn chúng ta đều muốn sự ổn định và một thói quen có thể dự đoán trước, và điều đó bao gồm cả những nhân viên xuất sắc nhất của bạn.

Management, busy improving systems and chasing results, often never even notices that people are still walking the old paths in their heads.

Ban quản lý, vì quá bận rộn cải tiến hệ thống và theo đuổi kết quả, thường thậm chí không nhận ra rằng mọi người vẫn đang đi trên những lối mòn cũ trong tâm trí họ.

People are the key drivers of change in the workplace

Con người là động lực chính của sự thay đổi tại nơi làm việc

A company only moves forward when the individuals inside it make their own personal transition first. Not after. First.

Một công ty chỉ tiến về phía trước khi các cá nhân bên trong công ty đó thực hiện quá trình chuyển đổi của riêng họ trước. Không phải sau đó. Mà là trước tiên.

Which raises the only question that matters here: What actually moves a person?

Điều này dấy lên câu hỏi duy nhất có ý nghĩa ở đây: Điều gì thực sự lay động một con người?

I have read plenty of theories. History is a hobby of mine. Out of the two, I arrived at an answer that is almost embarrassingly simple and that has never once let me down.

Tôi đã đọc rất nhiều lý thuyết. Lịch sử là một sở thích của tôi. Từ hai nguồn đó, tôi đã đúc kết ra một câu trả lời gần như đơn giản đến mức đáng ngạc nhiên và chưa từng làm tôi thất vọng dù chỉ một lần.

Three forces drive every one of us: love, in all its forms; power; and money. Sometimes it is just one. Sometimes two, or all three at once. The trap is assuming everyone is wired like you are.

Ba động lực thúc đẩy mỗi chúng ta là: tình yêu, dưới mọi hình thức; quyền lực; và tiền bạc. Đôi khi chỉ là một lực đẩy. Đôi khi là hai, hoặc cả ba cùng một lúc. Cái bẫy là việc mặc định rằng ai cũng có cách vận hành giống như bạn.

The history of Daimler- Benz illustrates how the pursuit of power and personal ambition can strongly shape managerial decision–making. Edzard Reuter transformed the company into a diversified technology conglomerate in pursuit of growth and influence, but the strategy ultimately weakened the core business and led to major financial losses. His successor, Jürgen Schrempp, reversed this course through radical restructuring, only to pursue his own ambitious vision of building a global automotive empire through large international acquisitions. Although both leaders justified their decisions as strategic necessities, their contrasting visions and desire to leave a lasting legacy demonstrate how power ambitions can drive corporate actions, often with costly consequences for the organization.

Lịch sử của Daimler-Benz minh họa cách theo đuổi quyền lực và tham vọng cá nhân có thể định hình mạnh mẽ quá trình ra quyết định của nhà quản lý. Edzard Reuter đã chuyển đổi công ty thành một tập đoàn công nghệ đa ngành nhằm theo đuổi sự tăng trưởng và tầm ảnh hưởng, nhưng chiến lược này cuối cùng đã làm suy yếu cốt lõi kinh doanh và dẫn đến những tổn thất tài chính lớn. Người kế nhiệm ông, Jürgen Schrempp, đã đảo ngược hướng đi này thông qua quá trình tái cơ cấu triệt để, chỉ để theo đuổi tầm nhìn đầy tham vọng của riêng mình là xây dựng một đế chế ô tô toàn cầu thông qua các thương vụ thâu tóm quốc tế quy mô lớn. Mặc dù cả hai nhà lãnh đạo đều biện minh cho quyết định của mình là nhữngh nhu cầu chiến lược tất yếu, nhưng những tầm nhìn trái ngược và mong muốn để lại di sản lâu dài của họ cho thấy tham vọng quyền lực có thể thúc đẩy các hành động doanh nghiệp như thế nào, thường đi kèm với những cái giá đắt đối với tổ chức.

The boss who is driven by power assumes everyone is, and misreads the entire room.

Người sếp bị chi phối bởi quyền lực sẽ mặc định rằng ai cũng như vậy, và đọc sai toàn bộ tình hình.

People change when they can see something in it for the person they really are, not the person you imagine them to be.

Mọi người thay đổi khi họ có thể nhìn thấy lợi ích thiết thực cho con người thật của họ, chứ không phải con người mà bạn tưởng tượng ra.

Now, the team. The quality of any restructuring is the quality of the people running it, full stop. Every compromise you make in picking them lowers your odds. And in cultures where nepotism decides who gets the job, that compromise is not just bad business. I will say it plainly: it is poison, for the company and for the society around it.

Bây giờ, hãy nói về đội ngũ. Chất lượng của bất kỳ đợt tái cơ cấu nào cũng chính là chất lượng của những người điều hành nó, chấm hết. Mọi sự thỏa hiệp bạn đưa ra khi lựa chọn họ sẽ làm giảm tỷ lệ thành công của bạn. Và trong những nền văn hóa mà nạn gia đình trị quyết định ai nhận được công việc, sự thỏa hiệp đó không chỉ là kinh doanh tồi. Tôi sẽ nói thẳng thừng: đó là độc tố đối với công ty và đối với xã hội xung quanh.

A study I ran (published in Croatian business journal Lider in February 2021) , linking perceived corruption to GDP per capita over twenty years, found the obvious thing: low–corruption countries simply live better.

Một nghiên cứu do tôi thực hiện (được công bố trên tạp chí kinh doanh Croatia Lider vào tháng 2 năm 2021) , liên kết tình trạng tham nhũng được nhận thức với GDP bình quân đầu người trong suốt hai mươi năm, đã tìm ra một điều hiển nhiên: các quốc gia có ít tham nhũng đơn giản là có cuộc sống tốt đẹp hơn.

Restructuring is a team sport

Tái cơ cấu là một môn thể thao đồng đội

To pick honestly, I use a simple grid for measuring competence and potential, the 4L-Matrix. The Competence–Potential Matrix is a management tool that helps organizations assess employees based on two key questions: Do they have the skills required for current and future roles? And do they have the willingness and ability to learn and develop?

Để lựa chọn một cách trung thực, tôi sử dụng một khung lưới đơn giản để đo lường năng lực và tiềm năng, đó là Ma trận 4L (4L-Matrix) . Ma trận Năng lực – Tiềm năng là một công cụ quản lý giúp các tổ chức đánh giá nhân viên dựa trên hai câu hỏi trọng tâm: Họ có các kỹ năng cần thiết cho các vai trò hiện tại và tương lai không? Và họ có sự sẵn sàng cũng như khả năng học hỏi và phát triển hay không?

Based on these dimensions, employees are classified as:

Dựa trên các tiêu chí này, nhân viên được phân loại thành:

Leaders (high competence/high potential)

Các nhà lãnh đạo (năng lực cao/tiềm năng cao)

Learners (low competence/high potential)

Người đang học hỏi (năng lực thấp/tiềm năng cao)

Loungers (high competence/low potential)

Người nhàn rỗi/làm việc hời hợt (năng lực cao/tiềm năng thấp)

Losers (low competence/low potential) .

Người kém hiệu quả (năng lực thấp/tiềm năng thấp) .

Each category requires a different management approach. The matrix provides practical guidance by promoting leaders into key positions, investing in learners’ development, managing loungers carefully while encouraging change and separating from persistent low performers when necessary.

Mỗi nhóm đòi hỏi một phương pháp quản lý khác nhau. Ma trận này cung cấp hướng dẫn thực tế bằng cách thăng cử các nhà lãnh đạo vào các vị trí then chốt, đầu tư vào sự phát triển của những người đang học hỏi, quản lý cẩn thận những người làm việc hời hợt đồng thời khuyến khích sự thay đổi, và tách rời khỏi những cá nhân kém hiệu quả lâu năm khi cần thiết.

Although the framework may appear mechanical, it supports more objective and rational personnel decisions during company restructuring, helping to build stronger teams and increase the likelihood of long–term success.

Mặc dù khuôn khổ này có vẻ mang tính máy móc, nhưng nó hỗ trợ đưa ra các quyết định nhân sự khách quan và hợp lý hơn trong quá trình tái cơ cấu công ty, giúp xây dựng các đội ngũ vững mạnh hơn và gia tăng xác suất thành công lâu dài.

Executives consistently underestimate the emotional journey

Các nhà điều hành luôn đánh giá thấp hành trình cảm xúc

Elisabeth Kübler-Ross built her famous model to describe how the dying come to terms with it. It maps almost perfectly onto how employees absorb the threat of losing their job.

Elisabeth Kübler-Ross đã xây dựng mô hình nổi tiếng của bà để mô tả cách những người sắp chết đối mặt với thực tế đó. Nó trùng khớp một cách hoàn hảo với cách nhân viên tiếp nhận mối đe dọa mất việc làm.

Shock. Denial. Frustration and anger. Depression. Only then, eventually, acceptance.

Sốc. Phủ nhận. Phức tạp, thất vọng và giận dữ. Trầm cảm. Chỉ sau đó, cuối cùng mới là sự chấp nhận.

Announce a change once and expect everyone to be aligned by week three, and you have simply not understood people. So communication cannot be an event. In the denial phase, you repeat the story again and again until it sinks in. In the anger phase, you do not take the hostility personally; you tell them instead how you are going to help them through it. And the hard messages you deliver yourself. Employees can smell it instantly when leadership hands the unpleasant work to outside consultants, and there is no worse start to winning them back. Consultants advise. They cannot borrow your voice. Authority you outsource is authority you have lost.

Hãy công bố một sự thay đổi một lần và mong đợi mọi người sẽ đồng lòng vào tuần thứ ba, thì bạn hoàn toàn chưa hiểu gì về con người. Do đó, giao tiếp không thể chỉ là một sự kiện đơn lẻ. Ở giai đoạn phủ nhận, bạn lặp đi lặp lại câu chuyện cho đến khi nó ngấm dần. Ở giai đoạn tức giận, bạn không được coi sự thù địch đó là nhắm vào cá nhân mình; thay vào đó, bạn nói cho họ biết cách bạn sẽ giúp họ vượt qua giai đoạn đó như thế nào. Và những thông điệp khó khăn, chính bạn phải là người truyền đạt. Nhân viên có thể đánh hơi thấy ngay lập tức khi ban lãnh đạo đẩy công việc khó chịu cho các nhà tư vấn bên ngoài, và không có sự khởi đầu nào tồi tệ hơn thế trong việc giành lại lòng tin của họ. Các nhà tư vấn chỉ đưa ra lời khuyên. Họ không thể mượn giọng nói của bạn. Quyền lực mà bạn đi thuê ngoài chính là quyền lực mà bạn đã đánh mất.

Return–to–office will resolve itself one way or another. The lesson underneath it will not change. Put people at the centre of the thing, or watch the thing fail quietly around you.

Việc quay lại văn phòng sẽ tự giải quyết theo cách này hay cách khác. Bài học ẩn giấu bên dưới sẽ không thay đổi. Hãy đặt con người làm trung tâm của mọi vấn đề, nếu không muốn nhìn thấy mọi thứ sụp đổ một cách âm thầm xung quanh bạn.

Dr Dino I. Dogan is an executive and academic who has held CFO and board roles at Vipnet (now A1 Croatia) , Mobilkom Austria, Telekom Austria and Hrvatski Telekom, served as Chief Executive Officer (CEO) of Europlakat, leading major restructuring and merger efforts. He is the author of Seven Building Blocks of a Successful Corporate Restructuring (Springer books) .

Tiến sĩ Dino I. Dogan là một nhà điều hành và học giả từng đảm nhận các vị trí Giám đốc Tài chính (CFO) và thành viên hội đồng quản trị tại Vipnet (nay là A1 Croatia) , Mobilkom Austria, Telekom Austria và Hrvatski Telekom, từng giữ chức Giám đốc Điều hành (CEO) của Europlakat, dẫn dắt các nỗ lực tái cơ cấu và sáp nhập lớn. Ông là tác giả cuốn sách Seven Building Blocks of a Successful Corporate Restructuring (xuất bản bởi Springer) .

Figure

A weekly e-mail in English featuring expertise from scholars and researchers. It provides an introduction to the diversity of research coming out of the continent and considers some of the key issues facing European countries. Get the newsletter!

Một bản tin điện tử hàng tuần bằng tiếng Anh nổi bật với các chuyên môn từ các học giả và nhà nghiên cứu. Bản tin này giới thiệu về sự đa dạng của các nghiên cứu xuất phát từ châu lục và xem xét một số vấn đề cốt lõi mà các quốc gia châu Âu đang phải đối mặt. Hãy nhận bản tin ngay!

Dr Dino Dogan ne travaille pas, ne conseille pas, ne possède pas de parts, ne reçoit pas de fonds d’une organisation qui pourrait tirer profit de cet article, et n’a déclaré aucune autre affiliation que son organisme de recherche.

Tiến sĩ Dino Dogan không làm việc, không cố vấn, không sở hữu cổ phần, không nhận tài trợ từ bất kỳ tổ chức nào có thể hưởng lợi từ bài viết này, đồng thời không khai báo bất kỳ mối liên hệ nào khác ngoài tổ chức nghiên cứu của ông.