Tại sao giai đoạn giữa sự nghiệp lại là thời điểm dễ dẫn đến kiệt sức và căng thẳng công việc
Why mid-career is such a dangerous time for burnout and workplace stress

Ai cũng quen thuộc với hình ảnh quen thuộc của một nhà quản lý cấp cao luôn căng thẳng và gần như sắp gục ngã. Nhưng trên thực tế, giữa sự nghiệp lại là một trong những giai đoạn dễ bị kiệt sức và căng thẳng nhất trong cuộc đời của một người lao động. Ở giai đoạn này, nhiều người phải gánh vác thêm trách nhiệm ngoài công việc cùng lúc với việc nhà tuyển dụng gia tăng kỳ vọng về hiệu suất, tính sẵn sàng và khả năng lãnh đạo.
Giai đoạn giữa sự nghiệp thường là lúc gánh nặng kép này làm tăng nguy cơ kiệt sức. Nghiên cứu đã phát hiện ra rằng những chuyên gia này trải qua mức độ kiệt sức đặc biệt cao, làm việc nhiều giờ hơn và báo cáo mức độ hài lòng trong công việc thấp hơn so với các nhóm tuổi khác. Một nguyên nhân chính là sự căng thẳng liên tục giữa việc đáp ứng các yêu cầu của công việc và việc duy trì sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống.
Quan trọng là, kiệt sức giờ đây được công nhận rộng rãi không phải là sự yếu kém cá nhân, mà là một vấn đề của nơi làm việc. Tình trạng này đặc trưng bởi sự kiệt quệ cảm xúc, sự hoài nghi và năng suất làm việc giảm sút, với các nghiên cứu chỉ ra rằng nó chủ yếu được hình thành bởi các cấu trúc tổ chức, văn hóa và thực tiễn lãnh đạo hơn là do sự yếu kém của người lao động hay thiếu kỹ năng đối phó.
Burnout
Kiệt sức không ảnh hưởng đến tất cả các nhóm một cách đồng đều. Ví dụ, phụ nữ báo cáo mức độ kiệt sức cả về cá nhân lẫn liên quan đến công việc cao hơn nam giới, đặc biệt là ở giai đoạn giữa sự nghiệp. Điều này có thể phản ánh việc phụ nữ phải gánh vác nhiều trách nhiệm chăm sóc gia đình hơn cũng như các kỳ vọng về sự sẵn sàng và lao động cảm xúc.
Đại dịch COVID đã làm trầm trọng thêm các động lực này. Nhiều chuyên gia ở giữa sự nghiệp phải chật vật xoay sở giữa công việc và trách nhiệm gia đình cùng lúc với việc các tương tác xã hội bị thu hẹp, khối lượng công việc và thời gian làm việc bị kéo dài. Kể từ thời kỳ đỉnh điểm của đại dịch, tất cả các lĩnh vực và vai trò đều chứng kiến tỷ lệ kiệt sức gia tăng, trong đó các tổ chức y tế và xã hội chịu ảnh hưởng nặng nề nhất.
Absorbing the pressure
Gánh chịu áp lực
Căng thẳng và kiệt sức gây thiệt hại cho nhà tuyển dụng thông qua việc mất ngày làm việc, nghỉ làm khôngm phép và tình trạng “làm việc khi đang nghỉ phép” (những người vẫn làm việc trong thời gian nghỉ phép) . Các chuyên gia ở giữa sự nghiệp đặc biệt dễ bị tổn thương vì họ thường được kỳ vọng phải gánh chịu áp lực mà không biểu lộ sự căng thẳng. Điều này có thể là, ví dụ, dẫn dắt một nhóm vượt qua sự thay đổi của tổ chức đồng thời đáp ứng các mục tiêu hiệu suất của chính họ và hỗ trợ các đồng nghiệp cấp dưới.
Ở nhiều tổ chức, tình trạng quá tải mãn tính và sự bận rộn liên tục được bình thường hóa và thậm chí được khen thưởng. Việc luôn sẵn sàng có mặt trở thành một tiêu chuẩn của năng lực chứ không phải là một dấu hiệu cảnh báo.
Mặc dù vậy, vẫn tồn tại giả định rằng các chuyên gia ở giữa sự nghiệp vốn dĩ có khả năng phục hồi tốt. Tuy nhiên, việc tiếp xúc kéo dài với mức độ căng thẳng cao có thể làm giảm khả năng phục hồi của họ. Kinh nghiệm không nhất thiết bảo vệ con người khỏi tình trạng kiệt sức; trong nhiều trường hợp, nó chỉ che giấu điều đó mà thôi.
Các triệu chứng như mệt mỏi, mất ngủ và lo âu thường bị xem nhẹ hoặc phớt lờ cho đến khi căng thẳng đạt đến điểm giới hạn. Những người nổi tiếng với khả năng “cố vượt qua” thường kìm nén các dấu hiệu cảnh báo để duy trì một hình ảnh chuyên nghiệp. Những người lao động này thường trì hoãn việc tìm kiếm sự giúp đỡ, một phần vì những điều thường gắn liền với tình trạng kiệt sức (ví dụ như làm việc nhiều giờ, luôn phản hồi liên tục và làm việc quá sức kéo dài) thường bị bình thường hóa.
Mặc dù căng thẳng ngắn hạn đôi khi có thể nâng cao hiệu suất, nhưng cái gọi là “căng thẳng tích cực” lại nằm sát ngay điểm tới hạn. Khi áp lực trở thành mãn tính và thời gian phục hồi bị hạn chế hoặc không có, căng thẳng sẽ trở thành con đường ngắn nhất dẫn trực tiếp đến kiệt sức.
Nghiên cứu của tôi về sự phát triển của các nhà quản lý tuyến đầu đã làm nổi bật những rủi ro này. Các nhà quản lý cấp trung và chuyên gia giữa sự nghiệp liên tục được miêu tả là bị quá tải và chưa được đào tạo đầy đủ cho trách nhiệm quản lý của họ. Nhiều người đã bước vào các vai trò lãnh đạo với sự chuẩn bị chính thức rất ít hoặc không có, và phải học cách quản lý con người ngay trong quá trình làm việc.
Việc được thăng chức thường mang lại sự gia tăng đáng kể về trách nhiệm nhưng không đi kèm với khoản đầu tư tương xứng cho đào tạo. Và nơi nào có cơ hội phát triển, thì chúng thường mang tính chắp vá và không đồng bộ. Sự kết hợp này đã nuôi dưỡng nỗi lo âu và sự nghi ngờ bản thân – những tiền đề đã được chứng minh rõ của tình trạng kiệt sức.
Là một phần của dự án, chúng tôi đã phỏng vấn hơn 150 nhà quản lý tuyến đầu từ cả khu vực công và tư nhân. Những phát hiện của chúng tôi cho thấy rõ ràng rằng kiệt sức được hình thành bởi các hệ thống, chuẩn mực và kỳ vọng tại nơi làm việc. Các thực tiễn và quy trình của tổ chức, cùng với văn hóa và các mô hình lãnh đạo, đóng một vai trò quan trọng. Các mục tiêu phi thực tế, việc giám sát quá mức và văn hóa làm việc quá giờ làm gia tăng sự căng thẳng. Và các thực tiễn lãnh đạo ưu tiên áp lực hiệu suất liên tục sẽ chủ động làm tăng nguy cơ kiệt sức.
Môi trường làm việc quan trọng hơn bản thân số giờ làm việc – các yếu tố rủi ro bao gồm bắt nạt, quấy rối tình dục và phong cách lãnh đạo độc hại. Đáng chú ý, kiệt sức gắn chặt chẽ với sự tương tác từ các nhà lãnh đạo, hoặc sự thiếu vắng điều đó. Ví dụ, một nghiên cứu cho thấy các chuyên gia ở giữa sự nghiệp, đặc biệt là phụ nữ, bị kiệt sức khi nỗ lực của họ không được các nhà quản lý ghi nhận.
Các nhà lãnh đạo biết lắng nghe, ghi nhận nỗ lực và đưa ra sự công nhận có thể làm giảm đáng kể nguy cơ kiệt sức. Về cơ bản, cảm giác công việc của bạn có ý nghĩa và được trân trọng sẽ tạo ra sự khác biệt có thể đo lường được.
Các nhà lãnh đạo có thể thiết kế công việc theo hướng bền vững thay vì bắt người lao động phải chịu đựng lâu dài. Điều này bao gồm việc đảm bảo khối lượng công việc và mục tiêu là thực tế, cũng như xóa bỏ văn hóa tôn sùng việc luôn luôn phải sẵn sàng.
Các vai trò lãnh đạo ở giữa sự nghiệp phải được hỗ trợ đầy đủ, và người lao động nên được dành riêng thời gian để đào tạo và phát triển thay vì bị kỳ vọng phải học hỏi qua việc thử và sai. Các nhà quản lý của họ nên cố gắng tạo ra một môi trường an toàn – lắng nghe một cách nghiêm túc, phản hồi sớm các mối bận tâm và can thiệp trước khi căng thẳng leo thang thành kiệt sức.
Cuối cùng, tinh thần làm việc nhóm vững mạnh và ý thức cộng đồng tại nơi làm việc mang lại ý nghĩa giúp đệm lại tình trạng kiệt sức. Ở giai đoạn giữa sự nghiệp, khi áp lực hội tụ từ nhiều phía, sự kết nối không phải là một sự xa xỉ mà là một nhu cầu thiết yếu. Tầm quan trọng của niềm vui trong công việc thường bị bỏ quên. Cơ hội tạo ra ý nghĩa, sự kết nối và sự tận hưởng không phải là những thứ phụ lục nuông chiều bản thân; chúng bảo vệ chúng ta khỏi căng thẳng mãn tính và tình trạng kiệt sức.
Katie
Katie Green không làm việc cho, không tư vấn, không sở hữu cổ phần hoặc nhận tài trợ từ bất kỳ công ty hay tổ chức nào có thể hưởng lợi từ bài viết này, và chưa tiết lộ bất kỳ mối liên hệ nào vượt ra ngoài học hàm học vị của mình.
có thể bạn cũng quan tâm
-

Các huyền thoại về hiếp dối định hình cách chúng ta ứng phó với bạo lực tình dục. Chúng là gì và có tác động ra sao?
Rape myths shape how we respond to sexual violence. What are they and what impact do they have?
-

Sếp hay chửi thề có thể khiến bạn làm việc chăm chỉ hơn (hoặc muốn nghỉ việc)
A sweary boss might make you work harder (or want to quit)